|
Phật
pháp Hướng Thiện |
| Trở về | ||
| Chương trình Ngành Thiếu BẬC HƯỚNG THIỆN 1-
Lịch sử Đức Phật
|
Lịch
Sử Đức Phật Thích Ca EM NGHE Vào
khoảng thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, dân tộc A-ly-an
(Aryen) thâu phục nước Ấn Độ và chia dân chúng ra thành
bốn giai cấp như sau : 1- Bà-la-môn: Gồm các đạo sĩ
học hành uyên thâm, giới hạnh đoan nghiêm. Văn hóa của dân
tộc đều nằm trong sự điều khiển của các bậc này. Ngoài
ra còn có chủng tộc Ba-ly-a, là dân tộc mọi rợ. Chỉ
có ba giai cấp trên được quyền học đạo. Hai giai cấp sau
cùng không có quyền đọc kinh sách, ngược lại chỉ làm tôi
tớ cho ba giai cấp trên. I. Sự ra đời của thái tử: Vào
năm 623 Trước Tây Lịch, Vua Tịnh Phạn được 50 tuổi, và
Hoàng Hậu Ma Gia được 45 tuổi, một hôm trong giấc ngủ an lành,
hoàng hậu mộng thấy một con voi trắng sáu ngà chui vào hông
bên phải của bà và sau đó thì hoàng hậu thọ thai. Thái
tử sanh vào ngày trăng tròn tháng hai Ấn độ, tức nhằm ngày
rằm tháng tư âm lịch năm 624 trước Tây lịch, dưới cây Vô
ưu, vườn Lâm Tỳ Ni, nước Ca Tỳ La Vệ. Ngài được đặt
tên Tất Đạt Đa, họ Thích Ca, vì Thích Ca là chi nhánh của
dòng dõi Kiều Tất La nên ngài được gọi là Kiều Tất La
Thích Ca Tất Đạt Đa. II. Tướng mạo Thái tử: Thái
tử có 32 tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp. Tướng số A -Tư-Đà
nhìn thái tử và nói rằng : "Nếu thái tử làm vua thì
sẽ làm vị chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia thì sẽ
thành Phật." Ông A-Tư-Đà vừa vui vừa buồn. Vui là thái
tử sẽ thành Phật, và buồn vì khi thái tử thành Phật thì
ông không còn sống nữa. III. Cuộc sống của Thái tử: Thái
tử chào đời được bảy ngày thì hoàng hậu Ma Gia qua đời.
Thái tử được dì Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng. Thái tử
nổi tiếng thông minh, văn võ song toàn, lại luôn luôn khiêm
tốn, lễ độ nên được mọi người yêu chuộng. Đến năm
17 tuổi, sau khi chiến thắng được tất cả các cuộc thi đua,
Thái tử cưới công chúa Da-Du-Đà-La làm vợ và sanh được
đứa con trai tên La-Hầu-La. IV. Thái tử tiếp xúc với đời: Thái
tử xin cha đi du ngoạn để biết cuộc sống ở ngoài hoàng
cung. Lần thứ nhất ở cửa thành phía Đông ngài gặp một
cụ già da nhăn, lưng còm, tai điếc. Lần thứ hai ở cửa thành
phía Tây gặp một người bịnh rên la thảm thiết. Lần thứ
ba ở cửa thành phía Nam ngài chứng kiến một đám tang, thân
nhân khóc la sầu thảm. Bấy giờ thái tử mới thực sự
biết rõ thực trạng đau khổ của kiếp người. Lần thứ tư
ở cửa thành phía Bắc gặp một vị sa môn. Nhìn hình ảnh
thanh thoát của vị sa môn làm thái tử nảy sanh ý chí tìm đạo.
Ngài hiểu rằng chỉ có phương pháp xuất gia, tìm đạo
giải thoát, mới mong cứu được hết thảy chúng sanh khỏi
khổ đau. V. Thái tử xuất gia: Một
đêm kia, sau buổi yến tiệc linh đình, thừa lúc mọi người
đang ngủ say, thái tử nhìn vợ con lần cuối rồi cùng
Xa-Nặc phi ngựa Kiền-trắc theo hướng Đông Nam. Đến dòng sông
A-Nô-Ma, ngài cởi hoàng bào, cắt tóc, và trao gươm báu cho
Xa-Nặc đem về cho vua cha để bày tỏ ý chí cương quyết
xuất gia của Thái tử. Ngài xuất gia vào lúc trăng tròn tháng
2 Ấn độ lúc ngài được 19 tuổi. SUY NGHĨ Ngài
luôn luôn nghĩ đến sự khổ đau của chúng sanh và tìm cách
cứu giúp. Thái
tử xem nhẹ danh lợi, tài sắc, giã từ hạnh phúc gia đình
để đi tìm hạnh phúc chân thật. Ý
chí dũng mạnh, cương quyết của Ngài đã giúp ngài vượt
qua mọi gian khổ trên bước đường xuất gia. Sự
có mặt của Ngài không phải là huyền ảo. Chính lịch sử
nhân loại đã chứng minh ngài là một nhân vật lịch sử,
một nhân vật có thật.
TU TẬP Không
đua đòi theo thế gian. |
|
