Phật pháp
Oanh Vũ


Bậc Chân Cứng


Trở về
Chương trình
Oanh Vũ
BẬC CHÂN CỨNG

1- Lịch sử đức Phật:
 * xuất gia đến nhập diệt

2-
Xử dụng chuông mõ
3-
Ý nghĩa màu Lam
4- Chào kính
5- Sáu phép hòa kính
6- Em đi họp Đoàn
7- Mẫu chuyện đạo
 a. Chiếc cầu
          muôn thuở

 b.Con voi hiếu nghĩa
 c.Thầy Tỳ kheo
       với cong ngỗng


 

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca 
Từ Xuất Gia Đến Nhập Diệt

Nửa đêm mùng Tám tháng Hai, Thái Tử Tất Đạt Đa cùng người hầu cận là Xa Nặc cỡi ngựa Kiền Trắc vượt cửa thành ra đi. Đến sông A Nô Ma, Ngài xuống ngựa, cắt tóc, cởi đồ trang sức giao cho Xa Nặc mang về cung báo cho Vua Tịnh Phạn biết ý định đi tìm Đạo giải thoát cho chúng sanh của Thái Tử. Trên đường đi gặp người thợ săn Thái Tử cởi áo mình đổi lấy quần áo của người thợ săn, cương quyết từ giả cảnh đời xa hoa, vương giả.

Trước hết Thái Tử tìm hiểu và tu tập theo những Đạo đang có ở trong nước, tìm xem Đạo nào là chân chánh giải thoát cho tất cả chúng sanh. Đến thành Vương Xá, rừng Bạt Già, Thái Tử hỏi Đạo của các vị Tiên tu khổ hạnh, để được lên các cõi trời, nhưng nhận thấy chưa phải là Đạo chân chánh giải thoát. Đến phía Bắc thành Tỳ Xá Lỵ, Thái Tử hỏi Đạo ông A La La tu để lên cõi trời Vô Tưởng, nhưng Ngài cảm thấy cũng chưa phải là Đạo giải thoát. Rồi Ngài đến hỏi Đạo ông Uất Đầu Lam Phất, tu để sanh về cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Thái Tử đã tu theo và chứng được, nhưng Ngài cũng nhận rằng cõi ấy chưa phải là cảnh giải thoát.

Sau ba lần hỏi Đạo Thái Tử nhận thức rằng các Đạo hiện hành không có Đạo nào là chân chánh giải thoát, Ngài nghĩ phải tự mình tìm cho chính mình một con đường tu tập và giác ngộ. Đến rừng Ưu Lâu Tần Loa, phía Nam núi Tượng Đầu, bên sông Ni Liên Ngài cùng năm anh em ông Kiều Trần Như tu khổ hạnh. Trong sáu năm, Ngài cương quyết ép xác mình cho đến mỗi ngày chỉ ăn một hạt gạo hoặc một hạt mè mà thôi. Đến một ngày kia thân xác Ngài tiều tụy té xỉu chết giấc. Lúc ấy có một người thiếu nữ tên Tu Xà Đề thấy Ngài nằm dưới gốc cây liền mang sữa đến dâng. Khi tỉnh dậy, Ngài hiểu rằng tu khổ hạnh chưa phải là Đạo giải thoát. Ngài xuống sông Ni Liên tắm rửa sạch sẽ, rồi đến gốc cây Bồ Đề trải cỏ làm nệm, ngồi tọa thiền và thề rằng: "Nếu ta không chứng Đạo giải thoát cho chúng sanh thì thề trọn đời không rời khỏi cây Bồ Đề này."

Trong lúc Ngài định tâm tu tập, các Ma Vương sợ Ngài  thành  Đạo  sẽ  giác  ngộ  cho  muôn  loài bèn rủ nhau đến tìm cách phá Ngài, nhưng sự quyết tâm tu tập của Thái Tử đã thắng tất cả những sự phá phách của Ma Vương. Sau bốn mươi chín (49) ngày tu tập dưới gốc cây Bồ Đề, đến đêm mùng Tám tháng Mười Hai Thái Tử chứng Đạo vô thượng, thành Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni.

Đức Phật Thích Ca đến vườn Lộc Uyển thuyết Pháp Bốn Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) cho năm người bạn cùng tu khổ hạnh là nhóm Kiều Trần Như, và họ trở thành đệ tử Phật, từ đó mới có đủ ba ngôi báu là Phật, Pháp, và Tăng.

Đức Phật thuyết Pháp và giáo hóa chúng sanh hơn bốn mươi chín (49) năm, Ngài độ cho vô số đệ tử giàu nghèo, sang hèn, đủ mọi tầng lớp. Trong lúc còn tại thế Ngài đi thuyết Pháp trong chín (9) tháng nắng ở xứ Ấn Độ, còn ba tháng mưa thì ở lại tịnh xá để chuyên tu.

Biết mình sắp nhập Niết Bàn, đêm trăng tròn tháng hai Ấn Độ, Ngài tụ tập các hàng đệ tử tại xứ Câu Ly, rừng Xa Nại, treo võng nơi hai cây Song Thọ, giảng dạy khuyên bảo lần cuối, trao y bát cho đệ tử là ngài Ca Diếp để tiếp tục truyền Đạo, rồi từ giã mọi người mà nhập Niết Bàn. Ngài hưởng thọ tám mươi (80) tuổi.