|
Trại
Huấn Luyện |
| Chương
trình Trại Huấn Luyện LỘC-UYỂN.
I. Phật Pháp 7 Bài II.Tinh Thần 4 bài 5 bài IV.Tổ
chức và V.
Chuyên Môn 7 bài VI.Tổng Quát 2 bài
***
|
I
. Phật Pháp : 4. Thiện Ác Nghiệp Báo
I.
Định Nghĩa: -
Thiện nghĩa là lành, là tốt
nghĩa là việc gì đó có lợi cho mình và cho người ở hiện
tại và tương lai. -
Ác nghĩa là dữ, nghĩa là xấu,
nghĩa là những việc gì trái lý, có hại cho mình ở hiện
tại và tương lai. -
Nghiệp là những hành động
về thân, miệng, ý tạo thành những sức mạnh chi phối tự
thân và hoàn cảnh. -
Báo là quả báo. II.
Nghĩa Chữ Thiện, Ác: Nghĩa
chữ Thiện, Ác không được minh định rõ ràng, Thiện, Ác
theo nghĩa thế gian và quán niệm Thiện Ác theo đạo Phật có
thể sai khác. Thiện,
Ác theo nghĩa thế gian: Thiện,
Ác theo phong tục: Tùy theo phong
tục, đúng với thói quen thì cho là Thiện dù trái với lẽ
phải. Như ở Phi châu, con giết cha mẹ ăn thịt là Thiện.
Ở xứ mình cha mẹ mất, giết trâu bò tế lễ cho là việc
phải, thành thử đối với phong tục là Thiện mà xét theo lý
luận đứng đắn thì phải là Ác. Phong tục mỗi xứ mỗi khác
nhau, phán đoán về phương diện phong tục thì nhắm mắt theo
phong tục là Thiện, trái với phong tục là Ác. Lời phán đoán
như vậy không có chủ đích, không thể vững được. Thiện,
Ác theo hình luật: Hình luật
cốt đem lại sự trị an trong một nước, những gì trái
với hình luật thì cho là Ác và bị trách phạt. Như vậy
những gì Ác trong tâm thì ra ngoài phạm vi hình luật vì không
có bằng cớ rõ ràng... Hơn nữa hình luật đặt ra để mưu
sự trị an và sự phồn thịnh cho một nước thì rất có
thể những hình luật ấy mưu hại nước khác hoặc dung túng
sự sai lầm cho dân trong nước, miễn rằng việc ấy đem
lại lợi ích cho nước mình là được. Do đó nghĩa chữ
Thiện, Ác không được rốt ráo. Thiện,
Ác theo Thần giáo: Lại như các
Thần giáo tuy rất chú trọng các điều Thiện, Ác và muốn
chửa trị tâm bệnh loài người nhưng phần nhiều cũng chỉ
phán đoán sự Thiện, Ác trong phạm vi nhân loại. Các Thần gíao
thường dạy rằng: ,,Kính mến các vị Thiên thần Tạo hóa là
Thiện, không tin các vị Tạo hóa Thiên thần là Ác. Nếu kính
mến các vị Tạo hóa, các vị Thiên thần mà phản lại lợi
ích chung, làm tổn hoại cho các sinh vật khác thì không thể
gọi là Thiện. Trái lại đánh đổ những lỗi lầm, tín ngưỡng
mơ hồ làm cho nhân loại biết đường chơn chánh mà xu hướng
thì không thể gọi là Ác được. Như vậy lời phán đoán
Thiện, Ác theo Thần giáo cũng chưa được hoàn thành. Thiện,
Ác theo đạo Phật: Đạo Phật
định nghĩa Thiện là những việc gì hợp lý có lợi cho mình,
cho người trong hiện tại và tương lai. Ác là những việc gì
trái lý, có hại cho mình, cho người trong hiện tại và tương
lai. Theo thế gian pháp và xuất thế gian pháp có thể chia
việc Thiện, Ác ra ba loại: Hữu lậu ác, Hữu lậu thiện, Vô
lậu thiện. -
Hữu lậu ác: Là những hành động độc ác khiến loài người
bị đọa lạc trong vòng luân hồi sanh tử. Hữu lậu ác thì
nhiều nhưng không ngoài 5 điều Nghịch và 10 điều Ác. 5 điều Nghịch là: Giết cha, giết mẹ, giết các vị A La Hán, phá hòa hợp Tăng và làm thân Phật ra máu. 10
đièu Ác là: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, nói lưỡi
hai chiều, nói thêu dệt, nói lời độc ác, tham, sân, si. 5
điều Nghịch và 10 điều Ác này nhất định làm tổn hại
cho mình và người, phải đọa trong sự khổ sở luân hồi
cho nên gọi là Hữu lậu ác. -
Hữu lậu thiện: Là những điều lành tuy có thể làm cho mình
và người được hưởng những quả báo lành nhưng chưa có
thể giải thoát con người khỏi đọa lạc trong vòng sanh tử
nên gọi là Hữu lậu thiện. Hữu
lậu thiện có thể chia làm hai: Chữ
Thiện có nghĩa là không làm việc Ác. Tất
Thiện nghĩa là làm mười điều lành: Phóng sanh, bố thí,
tịnh hạnh, nói lời chân thật, nói lời ngay thẳng, nói
lời dịu ngọt, nói lời phân giải, từ bi, nhẫn nhục, suy
nghĩ chân lý. Vô
lậu thiện: Các việc Lành trên đối đãi các việc Ác nên
gọi là Thiện nhân nhưng còn ngã chấp chủ động, còn hy
vọng quả báo có thể làm người khỏi phải sống chết luân
hồi nên chưa rốt ráo là Thiện. Chỉ có những việc Thiện
tuyệt đối không có ngã chấp chủ động, không hy vọng có
quả báo, thuần tánh khởi dụng hiệp với thực tướng là
Thiện. Trái với thực tướng là Ác.
Chỉ có hàng Duyên Giác, Bồ Tát và chư Phật mới hành
Thiện một cách rốt ráo chân thật. III.
Nghĩa chữ Nghiệp: Định
Danh: Nghiệp tiếng Phạn gọi là
Karma, Tàu dịch là tạo tác, nghĩa là những tác động về thân,
về miệng, về ý tạo thành những sức mạnh chi phối tự thân
và hoàn cảnh. Các
Món Nghiệp: Nghiệp về nhân có
ba: Ý nghiệp là ý suy nghĩ, Khẩu nghiệp là miệng nói ra
tiếng, thân nghiệp là tham lam các việc. Nghiệp có Hữu lậu
nghiệp là những nghiệp khiến con người trôi lăn trong biển
sanh tử. Bất động nghiệp là nghiệp của hàng chư Thiên ở
sắc giới và vô sắc giới, thiện tâm thường thiền định
tùy theo sức định mà thụ quả trên thượng giới, quyết không
biến động bất tư nghì. Nghiệp là nghiệp của các vị
thấu rõ chơn tâm, tuy không mắc vào một nghiệp nào mà có
thể hiện ra hóa thân trong vô số nghiệp mà độ sanh, không
thể suy nghĩ đo lường được. Sức
Mạnh của Nghiệp: Các Nghiệp
tạo tác, huân tập thành những sức mạnh chi phối mọi người,
mọi hoàn cảnh. Hành
động và tính tình của con người đều do nghiệp lực chi
phối. Tính tình của mỗi người không phải tự nhiên mà có,
mà là do những hành động, những nghiệp của người ấy đã
tạo tác ra từ trước tới nay. Hoàn
cảnh của cả dân tộc hay của một người đều do nghiệp
lực chi phối. Một người Thiện, một dân tộc Thiện đều
tạo tác những hạnh nghiệp Thiện, sức mạnh của cái
Thiện ấy tạo thành hoàn cảnh Thiện tốt đẹp. Nghiệp
lực chi phối sự đi đầu thai. Chính sức mạnh của Nghiệp
bắt buộc và chi phối con người phải luân hồi trong biển
sanh tử.
Bốn Nghiệp dắt con người
phải đi đầu thai là: Tích
lũy nghiệp, là những Nghiệp tích chứa từ đời này sang đời
khác. Tập
quán nghiệp, là những Nghiệp tạo thành tập quán trong một
đời. Cực
trọng nghiệp, là những Nghiệp đặc biệt quan trọng lấn lướt
tất cả các Nghiệp khác. Cận
tử nghiệp, là Nghiệp khi gần chết. IV.
Nghĩa Chữ Quả Báo: Định
Danh: Quả báo là kết quả báo
ứng của các nghiệp nhân đã tạo tác. Các Món Quả Báo: -
Chánh Báo: Là kết quả báo ứng về tư thân. -
Y Báo: Là kết quả báo ứng về hoàn cảnh của từng người,
hoặc từng dân tộc phải sống trong hoàn cảnh xấu hoặc
tốt. Thời
Gian Trong Quả Báo: Có những
Nghiệp nhân có ngay quả báo trong một đời gọi là hiện báo.
Có những Nghiệp nhân ở nhiều kiếp trước, đến đời này
hay đời sau mới có quả báo thì gọi là hậu báo. Những
sự hình thành của quả báo căn cứ trên sự thuần thục
của Nghiệp nhân chứ không căn cứ trên ý niệm thời gian. Quả
Báo Với Ảnh Hưởng Của Tự Tâm:
Quả báo có thể chia thành quả báo tự tâm và quả báo đối
đãi. Như người bắn chết con chim thì hành vi ấy huân tập
tánh háo sát nơi tự tâm. Trong một đời khác, nếu có đủ
điều kiện thì con chim sát hại lại để trả oán, đó là
quả báo đối đãi. Vô
Tâm: Làm một việc lành nhưng vô tâm mà làm thì không có
kết quả lành nơi tự tâm. Nếu vô tâm làm lành, sau lại
hối tiếc thì chỗ huân tập nơi tự tâm lại về phần Ác.
Làm một việc Ác nếu vô tâm mà làm thì không có quả báo nơi
tự tâm. Nếu vô tâm làm Ác sau lại biết hối hận, phát tâm
đại bi thì chỗ huân tập về tự tâm về phần Thiện. Hữu
Tâm: Cố ý làm lành để trông cầu danh lợi, tuy quả báo
vẫn đối đãi là Thiện nhưng tự tâm bị huân tập về đường
Ác. Trái lại một vị quan tòa vì Luật pháp phải kết án
tội nhân thì tuy cố ý làm tổn hại người khác nhưng chỗ
huân tập về tự tâm vẫn là Thiện. Lại có người tin vào
nhân quả nên cố ý làm Thiện thì tuy cố ý nhưng chỗ huân
tập lại là thuần thiện. Trái lại những người cố ý làm
Ác vì danh lợi, thù hiềm thì chỗ huân tập về tự tâm
rất nặng về đường Ác. V.
Sự Liên Lạc Của Nghiệp Nhân Thiện, Ác Và Quả Báo Thiện,
Ác: Lý
quả báo Thiện, Ác là một định luật tự nhiên, chi phối hành
vi con người và chỉ là một chi tiết của lý nhân quả. Con
người vẫn có quyền và có thể thay đổi quả báo của mình.
Nếu làm Ác mà hối hận rồi cố gắng làm lành thì có thể
chuyển được Nghiệp trước và khỏi chịu những quả báo
dữ. |
|
