Trại Huấn Luyện
Huynh Trưởng Sơ Cấp

Lộc-Uyển



 
Chương trình
Trại Huấn Luyện
LỘC-UYỂN.

 

I. Phật Pháp 7 Bài

II.Tinh Thần 4 bài

III.Kiến thức GĐPT

            5 bài

IV.Tổ chức và
    Điều Khiển
6 bài

V. Chuyên Môn 7 bài

VI.Tổng Quát 2 bài

 

          ***

   Thời khóa biểu

 

I . Phật Pháp :

 

2.      Giáo lý xây dựng bản thân:  Tam Quy & Ngũ Giới


 

 

 

A- Tam Quy

Cõi Ta bà mà chúng ta đang ở là một cảnh giới đầy mê mờ mà chúng ta đang lặn hụp trong bể khổ, bùn nhơ đầy nước mắt và dục vọng. Sống trôi lăn trong cảnh ấy, chúng ta khó thấy được bến bờ sáng sủa, yên ổn để lội vào. Biết được như vậy, dĩ nhiên ai cũng muốn thoát ra khỏi cõi đen tối, sầu đau để được trở về nguồn trong sáng an vui.

Vậy ai là người có đủ phương pháp thần diệu để giúp chúng ta ra khỏi sanh tử luân hồi?

Đấng sáng suốt tối cao và đầy đủ năng lực ấy không ai khác hơn là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài đã chứng quả bất sanh bất diệt và chỉ có Giáo pháp của ngài mới cứu được chúng sanh ra khỏi cõi Vô thường và Đau khổ. Vậy chúng ta còn ngần ngại gì mà chẳng chịu quy y Tam Bảo?

 

I-  Xuất Xứ:  

Các ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên là những người Ngoại đạo khi chịu thọ Giới và Giáo lý của đức Phật, các vị này đã nói: ,,Buddham Saranan Gachmi,, (=từ nay tôi chỉ nương tựa nơi đức Phật).

 

II- Định Danh và Ý Nghĩa Quy Y:  

Quy là trở về; Y là nương tựa; Quy Y tức là trở về nương tựa, còn có thể là kính vâng hay phục tùng; Quy Y dịch từ tiếng Phạn ,,Nam Mô,,. Tam Bảo là ba ngôi quý báu: Phật, Pháp, Tăng.

Ở thế gian vàng bạc, ngọc ngà và danh vọng là quý, nhưng chúng không cứu người ra khỏi cảnh khổ của sinh, già, bệnh, chết mà lắm khi còn làm cho con người khổ thêm. Còn Phật, Pháp, Tăng có đủ năng lực dắt dẫn con người ra khỏi những cái khổ trên, do đó mà chúng ta mới tôn sùng Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi quý báu.

Phật: Chữ Phật là do chữ Phạn Buddha phiên âm ra. Tàu dịch là Giác Giả có nghĩa là bậc đã giác ngộ sáng suốt hoàn toàn về ba phương diện Tự giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn.

Pháp: Dịch chữ Phạn Dharma là phương pháp tu hành mà Phật đã dạy để diệt trừ mọi mê muội khổ đau. Ba tạng Kinh điển (Kinh, Luật, Luận) gọi chung là Pháp.

Tăng: Hay Tăng phiên âm từ chữ Phạn Sangha. Tàu dịch là Hòa Hợp Chúng nghĩa là một đoàn thể tu hành từ bốn người trở lên, cùng sống một chỗ, giữ giới của Phật, chia sớt cho nhau một cách hòa thuận những gì đã thâu nhận được từ vật chất đến tinh thần.

Vậy quy y Tam Bảo là quay trở về nương tựa ở Phật, Pháp, Tăng.

 

III- Tại sao phải Quy Y Tam Bảo:

Tại sao lại quay về nương tựa Phật? Vì Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, từ bi vô lượng, phước huệ vô biên và đức hạnh viên mãn; là người dẫn đường đã có kinh nghiệm bản thân thoát ra ngoài vòng sanh tử để chứng Đạo. Quy y Phật thì không quy y Thiên thần Quỷ vật.

Tại sao lại trở về nương tựa Pháp? Vì chỉ có phương pháp của Phật mới có đủ công năng để đưa chúng ta ra khỏi bể khổ, đến bờ giải thoát. Quy y Pháp thì không quy y Ngoại đạo Tà giáo.

Tại sao lại quy y Tăng? Vì Tăng là những người đã hy sinh gia đình, tiền của, danh vọng để tình nguyện thay Phật dẫn dắt chúng sanh trên đường Đạo. Quy y Tăng thì không quy y Tôn hữu Ác đảng.

 

IV- Lợi ích của Quy Y Tam Bảo:

Chúng ta sẽ không đi lạc đường vào nơi tăm tối.

Khi đã phát nguyện quy y, chúng ta sẽ giữ đúng lời đã hứa vì có sự chứng tri của chư Phật và chúng Tăng.

 

V- Sự, Lý Quy Y:

Sự Quy Y:  Thực hành Tam Quy bằng thực tướng cung kính, vâng theo Tam Bảo. Thờ Phật cốt, lễ Phật tượng, tụng Kinh, giữ Giới, nghiên cứu Phật Pháp, kính trọng Tăng già đó chính là Sự Quy Y Tam Bảo.

Lý Quy Y:  Nghĩa là Quy Y Tam Bảo bên trong chúng ta, tức là Tam Tự Quy. Trở về nương tựa với Phật trong tâm mình là tánh sáng suốt; với Pháp của mình là đức tánh Từ Bi, Hỷ Xả v. v... Với Tăng của mình là sự hòa hợp, thanh tịnh của bản tâm. Như thế là Lý Quy Y Tam Bảo.

 

 

B. Ngũ Giới

 

Một người đã phát nguyện Quy Y Tam Bảo, đã phát lòng tin vững chắc về nhân quả nghiệp báo và muốn tránh những điều xấu ác thì nên phát nguyện giữ giới.

Giới là hàng rào ngăn cản tội lỗi, giúp ta không phạm phải những lầm lỗi thông thường của kiếp người. Giới tức là bức tường thành kiên cố ngăn chận ta đừng đi lạc vào đường ác, giúp ta không rơi vào hố sâu tăm tối của cuộc đời.

Giới là phao nổi vượt qua bể khổ, là ngọc Anh Lạc để trang nghiêm pháp thân (Sa Di luật nghi).

 

I- Định Danh và Hành Tướng:

Giới tiếng Phạn là Sila nghĩa là phòng bị, răn cấm và ngăn ngừa. Giới là những điều răn cấm mà đức Phật đã chế ra để ngăn ngừa chúng sanh không phạm phải những việc làm tội lỗi như tưởng niệm Ác, nói năng chẳng Lành, hành động Bất chính.

Giới luật Phật chế ra thì rất nhiều, riêng đối với hàng Phật tử tại gia thì có năm điều gọi là Ngũ Giới hay Năm Giới đó là: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói sai sự thật và không uống rượu.

 

II-  Ý Nghĩa Năm Giới:

1) Không Giết Hại: Điều răn cấm thứ nhất mà Phật khuyên chúng ta là không giết hại sanh mạng từ loài người cho đến các loài vật. Sanh mạng có một giá trị quý báu, giết sanh mạng này để tô bồi cho một sanh mạng khác là một điều ác, không hợp đạo lý. Lòng Từ Bi của đức Phật xem mọi loài như con, Ngài không đồng ý cho đệ tử của Ngài sát sanh. Bởi vì đang tâm sát hại sanh mạng là lòng độc ác đã cực thịnh, tâm Từ Bi bị bóp nghẹt. Nhẫn tâm làm cho kẻ khác hay vật khác phải dãy dụa, rên siết, quằn quại khi trút hơi thở cuối cùng là tự giết lòng Từ Bi của mình, là bóp chết các mầm thương yêu rất quý báu trong tâm hồn chúng ta. Một người đã thọ giới bất sát thì suốt đời phải giữ trọn vẹn, tự mình không giết, không bảo người khác giết, cho đến không vui, không tỏ ra tán thành khi thấy người khác giết. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ mà người đã thọ giới có thể sát sanh mà không bị phạm giới: Vô ý mà giết.

Theo pháp luật mà giết người, như quan tòa theo pháp luật mà kết án tử hình tội nhân.

Vì chức nghiệp mà giết, như những người thi hành án tử hình.

Để ngăn chận sự giết người mà phải giết người, như giết quân xâm lăng để chúng khỏi sát hại đồng bào; trường hợp này giết người để cứu người là làm việc thiện, là giữ giới nghiêm chỉnh.

 

2- Không Trộm Cắp: Để ngăn cấm việc lấy trộm của cải người khác hoặc lấy bằng những thủ đoạn sai trái. Giới này được phân tích như sau:

Bất Dũ Thủ: Người ta không vui lòng mà mình cứ lấy.

Biến Trả Thủ: Phỉnh gạt, lừa dối để lấy.

Uy Hiếp Thủ: Dùng thế lực uy hiếp để lấy.

Phi Thời Thủ: Là chưa đúng thời đã lấy, như con lấy của cải của cha mẹ, người công chức tự lấy lương trước để chi dụng...

Phi Nhận Thủ: Không phải phần của mình được nhận mà cứ lấy.

Vô Công Thủ: Không có công sức gì mà cũng nhận. Trong những trường hợp nêu trên, người đã thọ giới mà tự mình lấy hoặc bảo người khác lấy hay vui khi thấy người khác lấy đều phạm giới.

 

3) Không Tà Dâm: Tức là muốn nói về sự dâm dục phi lễ, phi pháp. Vợ chồng có cưới đủ lễ gọi là chánh, ngoài ra lén lút lang chạ, làm việc phi pháp gọi là tà. Đó là nói về mặt thô thiển, vi tế hơn thì những sự phóng tâm đắm sắc, nghĩ ngợi bất chánh, chơi bời lả lơi cũng thuộc về loại tà dâm. Nếu tự mình làm, hoặc bảo người làm hay thấy người làm mà vui theo đều phạm giới.

 

4) Không Nói Sai Sự Thật: Có bốn cách: Không nói dối, không thêu dệt, không nói lưỡi hai      chiều, không nói lời hung ác.

*Nói Dối: Nói không thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có, trái nói phải, phải nói trái, trước mặt thì khen sau lưng thì chê... Ý nghĩ, lời nói, trước sau, trên dưới mâu thuẫn nhau đều thuộc về nói dối.

*Nói Thêu Dệt: Việc ít nói cho nhiều, làm cho người nghe nổi sân, trau chuốt lời nói để cho người nghe êm tai mát dạ, say mê đắm nhiễm, hay nói châm nói biếm để cho người nghe phải khổ sở. Những lời thêm bớt, văn chương bóng bẩy làm cho người nghe phải loạn tâm, sanh phiền não đều gọi là lời nói thêu dệt.

*Nói Lưỡi Hai Chiều: Hay nói một cách khác ,,Đòn xóc nhọn hai đầu,, nghĩa là đến chỗ này thì hùa về bên này để nói xấu bên kia, đến bên kia thì hùa về bên kia để nói xấu bên này, làm cho bạn bè đang thân trở lại kình chống nhau, oán thù nhau.

*Nói Lời Hung ác: Là dùng những lời thô tục, cộc cằn, chửi rủa làm cho người nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi... Với những điều ác kể trên có lẽ chúng ta khó thi hành nghiêm chỉnh trong cuộc sống hàng ngày, cố gắng tránh làm hoặc ít làm được chừng nào thì tốt chừng nấy.

 

5) Không Uống Rượu: Tất cả những thứ có chất men làm say người đều không được uống. Chính mình không uống, không nài ép hoặc khuyến khích người khác uống còn tội nặng hơn là chính mình uống. Rượu nguy hiểm hơn thuốc độc, một chén thuốc độc uống vào ta chết ngay, nhưng chỉ chết một thân hiện tại chứ rượu uống vào làm mất hạt giống trí tuệ, phải chết đi sống lại vô số kiếp. Rượu chính nó không phải là một tội lỗi như bốn giới đã kể trên, song nó có thể là nhân cho những tội lỗi kia nảy sanh ra. Khi đã uống say sưa thì tội nào cũng có thể phạm được.

Tuy nhiên người Phật tử có thể uống một ít rượu để chữa bệnh hoặc để chia vui cùng người khác trong các nghi lễ mà không bị phạm giới.

Lúc Phật còn tại thế chỉ có rượu là chất độc làm hao tổn tinh thần nên Ngài cấm không được dùng nhiều hay vô cớ; nhưng hiện nay thì còn nhiều chất độc khác nguy hiểm hơn rượu sinh ra nghiện ngập và tác hại nhiều đến trí tuệ như thuốc phiện, cocaine... Theo tinh thần của giới này thì cũng nên cấm các thứ đó như là cấm rượu.

 

III- Tại Sao Phải Giữ Giới:

Chúng ta giữ giới không những ngăn ngừa, chận đứng các Ác pháp, xây dựng một trạng thái tâm hồn không có Ác pháp trong tư thân để dũng tiến trên đường giải thoát; mà còn đem lại trật tự, an vui, hòa bình và hạnh phúc cho Gia đình, Quốc gia và Xã hội nữa. Bởi vậy chúng ta giữ gìn năm giới bởi các lý do chính sau đây:

Ngăn ngừa những nguyên nhân sinh ra tội lỗi.

Bảo tồn hạt giống Trí Tuệ và nuôi dưỡng lòng Từ Bi.

Tôn trọng sự công bằng và sự thật.

Bảo vệ hạnh phúc Gia đình và sự trung tín trong Xã hội.

Tôn trọng Phật tánh bình đẳng của chúng sanh.

Tránh nhân quả báo ứng trả thù và khổ đau.

 

C. Kết Luận

Khi đã biết chân giá trị của Phật, Pháp, Tăng và ý nghĩa cao đẹp của việc giữ giới; nếu chúng ta không cố gắng hành theo thì chẳng khác gì người sắp chết đuối thấy khúc gỗ trôi qua mà lại dại khờ xuôi đuổi nó đi. Là Phật tử nhất là Huynh trưởng GĐPT, chúng ta không thể không Quy Y Tam Bảo và tùy hoàn cảnh, trình độ, căn cơ mà phát nguyện thọ trì năm giới.

Chúng ta đến với đạo Phật, sống với Đoàn là muốn vượt lên trên đời sống tầm thường của thế nhân. Nếu không tiến bộ, mà ngược lại vẫn tiếp tục cuộc đời trôi lăn trong tội lỗi, hay còn tệ hơn cuộc đời thường của thế nhân, thì đó là chúng ta đang làm hoen ố Đạo; chúng ta đang phá hoại Tổ chức chứ không phải xây dựng và phát triển Tổ chức.