|
Trại
Huấn Luyện |
| Chương trình Trại Huấn Luyện LỘC-UYỂN.
I. Phật Pháp 7 Bài II.Tinh Thần 4 bài 5 bài IV.Tổ
chức và V.
Chuyên Môn 7 bài VI.Tổng Quát 2 bài
***
|
III
. Kiến thức GĐPT : 6. Tiểu Sử Đạo Hữu Tâm Minh Lê Đình Thám
Đạo
hữu Lê Đình Thám, Pháp danh Tâm Minh tự Châu Hải, chánh quán
làng Đông Mỹ (Phú Mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam, sinh năm 1897 (Đinh Dậu) là con thứ Nam của
cụ Đông Các Đại Học Sĩ sung chức Binh Bộ Thượng Thư Lê
Đỉnh (triều Tự Đức) và cụ kế thất Phan Thị Hiệu. Lúc
nhỏ theo Nho học, thụ huấn trực tiếp với cụ Thượng thân
sinh ở nhà cùng với bào huynh là Đông Dương Y Sĩ Lê Đình Dương(1),
tuy tuổi còn non song cả hai đều thông đạt kinh sách, văn tài
thi phú đều làm được, nhất là Đạo hữu có tài ứng đối
nhanh, nổi tiếng thần đồng và là một danh kỳ hữu hạng
tại quê nhà. Lớn
lên theo tân học, thông minh xuất chúng, được thầy yêu
bạn mến, luôn luôn dẫn đầu lớp và đoạt khôi thủ trong
tất cả các kỳ thi từ cấp tiểu học đến đại học. Đạo
hữu tốt nghiệp Thủ Khoa Đông Dương Y Sĩ khóa năm 1916 tại
trường Cao Đẳng Y Khoa Đông Dương Hà Nội và Y khoa Bác Sĩ
ngạch Pháp Quốc khóa năm 1930 tại Y Khoa Đại Học Đường Hà
Nội. Ra
trường nhằm lúc vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại, bào huynh
là Đông Dương Y Sĩ Lê Đình Dương bị bắt đày lên Ban Mê
Thuột, Đạo hữu bị nhà cầm quyền thực dân Pháp tình nghi
theo dõi nên trong suốt thời gian phục vụ tại các bệnh
viện Bình Thuận, Sông Cầu, Quy Nhơn, Tuy Hòa (1916-1923) ngoài
công tác chuyên môn, Đạu hữu chỉ lo học hỏi và nghiên
cứu thêm về Nho, Y, Lý, Số. Năm
1926, Đạo hữu phụ trách Y Sĩ điều trị tại bệnh viện
Hội An. Trong một dịp viếng chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn) được
đọc bài kệ sau đây, ghi trên vách chùa mà Đạo hữu chú ý
đến Phật Giáo: Bồ
đề bổn vô thọ Minh
cảnh diệc phi đài Bổn
lai vô nhất vật Hà
xứ nhá trần ai. (2) Tiếp
đó được tin nhà cách mạng Phan Chu Trinh từ trần tại SàiGòn,
Đạo hữu cùng một số nhân hào nhân sĩ và công chức trí
thức Quảng Nam tổ chức lễ truy điệu trọng thể và cùng
thọ tang cụ Phan. Một tháng sau Đạo hữu được khẩn lệnh
đổi đi Hà Tỉnh. Năm 1928, Đạo hữu được thuyên chuyển về Huế làm Y Sĩ trưởng tại viện Bào chế và Vi trùng học Pasteur, cộng tác với Bác Sĩ Normet, Giám đốc Y Tế Trung phần phát minh ra Serum Normet, được Y giới đương thời rất trọng vọng. Cũng
năm này, Đạo hữu lên chùa Trúc Lâm thỉnh giáo Hòa Thượng
Giác Tiên về thâm nghĩa bài kệ chùa Tam Thai rồi phát tâm cùng
Thượng Tọa Thích Mật Khế nghiên cứu Giáo lý, học hỏi
kinh điển, tụng Kinh niệm Phật và phát nguyện trường Trai,
làm lễ Quy Y, thọ Ưu Bà Tắc Giới có pháp danh Tâm Minh từ
đó. Năm
1929-1932, sau hai năm liền thọ giáo với Hòa Thượng Phước
Huệ ( Hòa thượng chùa Thập Tháp, Bình Định), đồng thời
chịu ảnh hưởng cuộc trùng hưng Phật Giáo Trung Hoa của ngài
Thái Hư Pháp Sư qua sách báo Hải Triều Âm, Đạo hữu vâng
lời chư Đại lão Hòa Thượng Phước Huệ, Giác Tiên, Giác
Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết đứng ra triệu tập mười tám
vị đồng tu, thảo điều lệ xin thành lập Hội An Nam Phật
Học, đặt trụ sở đầu tiên tại chùa Trúc Lâm do Đạo
hữu làm Hội trưởng, dưới sự chứng minh sáng lập của quý
Hòa thượng nói trên. Đạo hữu bắt đầu thuyết Pháp tại
chùa Từ Quang, giảng giải Kinh Luận tại tư thất cho một
số Tín hữu nhiệt tâm cầu Đạo ( Quý Hòa Thượng Giải
Ngạn, Sư Bà Diệu Không, Thượng Tọa Thích Minh Châu lúc chưa
xuất gia đều được nối tiếp đào tạo trong những khóa
giảng này.) Năm
1933, phụ trách Y Sĩ bệnh viện Bài Lao Huế, Đạo hữu là
một danh Y uy tín nhất tại Đế đô. Về
Phật sự, Đạo hữu đã: -Khởi
công trùng tu Tổ Đình Từ Đàm, làm trụ sở Trung Ương của
Hội. -Cử
hành Đại Lễ Phật Đản ( mồng 8 tháng 4 Âm Lịch) đầu tiên
vô cùng trọng thể tại chùa Diệu Đế, gây ảnh hưởng
lớn lao trong mọi giới. -Chủ
trương xuất bản Nguyệt San Viên Âm, cơ quan ngôn luận và
truyền bá của Hội do Đạo hữu làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. -Thiết
lập cơ sở đào tạo Tăng tài: Cấp Trung, Tiểu học tại chùa
Báo Quốc do Hòa thượng Thích Trí Độ làm Đốc Giáo ( Quý Hòa
Thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa, Thượng Tọa Thiện Siêu, Trí
Quang, Thiện Minh, Trí Tịnh, Nhật Liên... đều xuất thân
tại trường này), cấp Đại Học tại chùa Tây Thiên do chính
Đạo hữu phụ trách về giảng diễn về Luận học và
Triết lý Đông, Tây (Quý Hòa Thượng Đôn Hậu, Trí Thủ,
Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể... đều xuất thân tại trường
này.) -Xúc
tiến thành lập các Tỉnh hội, Chi hội, Khuông hội khắp nơi
tại Trung phần, mở đầu là Tỉnh hội Thừa Thiên, Đà
Nẳng, Quảng Nam... Năm
1943, tuy việc Chuyên môn, việc Hội, việc Báo chí, việc
Phật học viện rất bề bộn nhưng Đạo hữu không lúc nào
xao lãng sự học, sự tu và sở trường của Đạo hữu là
giảng diễn Phật Pháp. Chính nhờ lối giải thích, trình bày
Phật Pháp một cách sáng sủa, hợp cơ mà Đạo hữu đã áp
dụng nên một số đông đồng học, cựu học cũng như tân
học, bình dân cũng như trí thức đã hiểu Đạo rất mau chóng
và đúng đắn. Đạo hữu thật xứng đáng là một vị Pháp
sư Cư sĩ, vừa Tông thông vừa Thuyết thông, khéo đưa Phật
Pháp ra giữa ánh sáng như đưa viên ngọc quý ra khỏi những
thế lực vô minh vùi lấp. Mùa
đông năm 1934, Hòa Thượng Giác Tiên viên tịch, ý thức được
trách nhiệm hoằng dương Chánh Pháp và duy trì sinh hoạt Giáo
Hội nên trong lời ai điếu Hòa thượng Bổn sư, Đạo hữu
đã phát nguyện dũng mãnh như sau: ,,
Kiến tướng nguyên vọng, kiến tánh nguyên chơn, Viên Giác
diệu tâm minh hữu ngã.
Chúc pháp linh truyền, chúc sanh linh độ, thừa dương di
huấn khởi vô nhân.,, Tạm
dịch: ,,
Tướng các pháp tuy vọng, tánh các pháp vốn chơn, Hòa Thượng
đâu có mất còn.
Chánh Pháp cần phải truyền, chúng sanh cần phải độ,
lời di huấn đó con nguyện xin gánh
vác.,, Năm
1935, để thích ứng với nhu cầu phát triển của Hội, bản
điều lệ của Hội được tu chính qua quyết nghị của Đại
Hội Đồng: Một ban Tổng trị sự được thiết lập tại
Huế trực tiếp điều hành các Tỉnh hội và năm nào Đạo
hữu cũng được Đại hội tín nhiệm công cử vào chức vụ
Hội trưởng hoặc Cố vấn để điều hành việc chung. Mùa
thu năm này, Đạo hữu dời nhà từ bệnh viện lên ở số 31
đường Nguyễn Hoàng (dốc Bến Ngự) tiếp tục giảng Kinh,
viết Báo, quy tụ một số Thanh niên Phật tử trí thức thành
lập Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục, sáng lập Gia Đình
Phật Hóa Phổ ( tiền thân của Gia Đình Phật Tử Việt Nam
ngày nay) nhằm duy trì đạo đức, xây dựng Chánh tín cho
hậu thế. Ngoài
ra, theo gương Phật Giáo Trung Hoa, qua nhiều năm nghiên cứu
kế hoạch và vận động phương tiện, Đạo hữu quyết tâm
xây dựng nền móng vĩnh cửu cho cơ sở đào tạo Tăng tài. Năm
1944, Đạo hữu sắp xếp di chuyển Phật học viện lên
thiết trí tại Kim Sơn, thành lập Tòng Lâm Kim Sơn (Huế), nhưng
thời cuộc không cho phép, công tác đành phải tạm ngưng sau
hai năm hoạt động. Nhờ
công đức của Đạo hữu, vừa Tài thí vừa Pháp thí, chủ
trương và duy trì mà Hội An Nam Phật Học, Nguyệt San Viên Âm
(3) và Phật Học viện đã vượt qua mọi thăng trầm vất
vả, mọi chướng ngại thế gian, gây được một thanh thế
lớn giữa trào lưu phục hưng Đạo pháp, phục hưng Dân
tộc, kích động Phật Giáo Nam, Bắc, đưa Phật Giáo nước
nhà từ chỗ quên lãng đến địa vị như ngày nay. Năm
1945 sau cuộc đảo chánh Nhật, Đạo hữu được chính phủ
Trần Trọng Kim mời giữ chức vụ Giám đốc Y tế Trung
phần kiêm Giám đốc bệnh viện Huế. Mùa
đông 1946, chiến cuộc bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, Đạo
hữu cùng Gia đình cũng tản cư về nguyên quán Quảng Nam,
tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm
1947-1949, tập họp một số cựu Đoàn viên Thanh niên Phật
học Đức Dục, cựu Huynh trưởng Gia Đình Phật Hóa Phổ,
cựu Hội viên Hội Phật học cùng những phần tử trí thức
do chính Đạo hữu chủ trì, hướng dẫn nghiên cứu và phân
tích sự khác biệt giữa Giáo lý nhà Phật với Chủ thuyết
Mác Lê tại Bồng Sơn (Bình Định) để phân biệt chân
ngụy, hư thật, chánh tà mà lúc ấy Cộng sản đang âm mưu
lợi dụng tinh thần yêu nước của mọi người để đánh
lộn con đen, lừa bịp phỉnh phờ. Năm
1954, sau khi chia đôi đất nước, dưới sự cai trị bốc
lột, bạo tàn và đàn áp dã man của chính quyền Cộng sản,
Đạo hữu tình nguyện ở lại ngoài Bắc với tâm nguyện duy
trì và bảo vệ Đạo Pháp và để chung cùng chịu đựng
những khổ đau, cơ cực với đồng bào ruột thịt. Mặc
dù tình thế đảo điên, nhân tâm ly tán cộng thêm sự
khủng bố kềm kẹp Tôn giáo của Cộng sản, Đạo hữu vẫn
chứng tỏ tinh thần vô úy, không biết mệt mỏi trong việc
diễn giảng và phiên dịch Phật Pháp cho đến hơi thở cuối
cùng. Đạo
hữu từ trần ngày 23.04.1969 ( tức ngày mồng 7 tháng 3 năm
Kỷ Dậu) tại Hà Nội để lại vô vàn thương tiếc trong lòng
người dân Việt nói chung và Phật tử nói riêng bởi những
công trình xây dựng và trấn hưng Phật Giáo trong thời cận
đại. Ghi
chú: (1) Y Sĩ Lê Đình Dương tốt nghiệp Á
Khôi Đông Dương Y Sĩ khóa đầu tiên năm 1915 tại trường
Cao Đẳng Y Khoa Đông Dương Hà
Nội và được bổ nhiệm làm Y Sĩ điều trị tại bệnh
viện Hội An ( Quảng Nam). Ông tham gia Việt Nam Quang Phục
Hội cùng với cụ Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thanh Tài...
phụ trách lãnh đạo phong trào vua Duy Tân Khởi Nghĩa tại Nam
Ngãi và bị Thực dân Pháp bắt đày lên Ban Mê Thuột năm
1916. Ông mất năm 1919 vì không chịu nổi sự tủi nhục và
đày ải khắc nghiệt của viên Công Sứ Thực dân Pháp
Sabatier, hưởng dương 26 tuổi. (2) Tác giả là Ngài Lục Tổ Huệ Năng. (3) Sau này, một loại sách nữa do
Thanh niên Phật tử trí thức được Đạo hữu hướng dẫn
biên tập là Phật Học Tùng Thư. |
|
