| Chương trình
1-Ý
nghĩa Tên trại ...
2-Ý
nghĩa niệm Phật
3-Ý
nghĩa ăn chay
4-Tư
cách & Nhiệm vụ
5-Quy
y Tam Bảo
6-Ý
nghĩa màu Lam
7-Huy
hiệu hoa Sen
8-Trò
chơi
9-Tập
họp
10-Cấp
cứu
11-Bổn
phận đoàn sinh
12-Sổ
sách
Ðề tài tham khảo:
* Cắm
trại
|
I. BẤT
TỈNH
A. Bịnh trạng và
nguyên nhân:
Người bị bất tỉnh thường không
cử động, mặt tái nhợt hẳn, mạch
đập nhẹ, sở dĩ bất tỉnh là do
các nguyên nhân sau:
- Bị đau quá - Ngạt hơi
- Sự sợ hãi - Hít nhiều thán khí, hơi độc
- Mệt - Bị điện giật
- Ăn không tiêu - Bị chảy máu
- Bị thắt cổ - Say nắng
- Bị dìm xuống nước - Vết thương
ở đầu
B. Cấp cứu:
Khi cấp cứu nên để nạn nhân nằm
dài, đầu thấp hơn chân, cởi bỏ bớt
áo quần hoặc tất cả cái gì làm máu bớt
lưu thông, bắt mọi người đứng ra
xa và nếu tiện cho ngửi chút Ether hay dấm.
Không nên đổ chất lỏng vào miệng người
bất tỉnh, vì sẽ làm người đó ngộp
thở. Gở bỏ răng giả, kẹo cao su, hoặc
vật khác trong miệng có thể làm ngạt thở
nạn nhân.
Nếu nạn nhân nằm không tỉnh, ta phải
làm các phương pháp hô hấp nhân tạo;
Syhester, Seherfer, Nelson, miệng với miệng, phải
kiên nhẫn, chớ bao giờ nản lòng. Có khi ta
vô tình để người đó chết mặc
dù còn cứu đuợc.
II. XUẤT HUYẾT:
A. Nguyên nhân và bịnh
trạng
Máu chia thành hai loại, đỏ và đen. Ở
mạch đỏ chảy ra, sắc máu hồng tươi
và vạch thành tia như bơm. Trái lại ở mạch
đen máu đỏ sẩm gần như đen và
khi chảy thi hay loang ra.
Có hai loại xuất huyết: Xuất
huyết trong và xuất huyết ngoài.
-Xuất huyết ngoài trông tuy sợ nhưng rất
ít nguy hiểm và có thể ngăn ngừa đuợc.
-Xuất huyết trong người: Mạch máu bị
vỡ ở bên trong rất nguy hiểm, có thể nạn
nhân bị thương nặng ở bụng vỡ gan,
hay vỡ lá lách. Bệnh nhân thấy khát nước,
người trắng bạch, mệt lả, mồ hôi
lạnh toát ra, mạch chạy nhanh và yếu.
B. Cách cứu chữa:
-Xuất huyết ngoài: thấy máu chảy điều
cần nhất là làm cho máu đông lại, nếu nạn
nhân mệt và mất nhiều máu, phải ủ cho
ấm, cho uống nước nóng, tiêm thuốc cho khỏe
và nếu cần phải truyền máu.
-Xuất huyết trong: trường hợp bất
khả kháng đặt nạn nhân nằm im một
chổ, ủ cho ấm rồi lập tức đem
đi bệnh viện.
III. PHỎNG:
A. Nguyên nhân bệnh
trạng
Những vật lỏng sinh ra do nhiệt độ quá
cao đối với da thịt con người hay do
nhiễm chất hoá học. Có hai trường hợp
phỏng:
-Phỏng nhẹ: Chiếm diện tích nhỏ một
phần trên mặt da
-Phỏng nặng: Chiếm diện tích 30% trở
lên trên mặt da, da phồng lên hoặc cháy thành
than.
B. Cách cứu chữa:
- Phỏng nhẹ: cần được che đậy
bằng băng khô hay băng cứu thương nếu
có sẵn. Nếu không cứ nên để nguyên vết
phỏng.
- Phỏng nặng: phải tránh sự làm độc
và kích súc. Băng với băng khô như thường.
Không nên sờ mó vào nạn nhân với bất cứ
thứ gì. Phủ quần áo lên vết phỏng, cố
gở những mảnh vải dính vào da, gắng lau sạch
vết phỏng, chọc thủng những chổ phỏng
cho chảy ra hoặc thoa Vaseline hay Pomade lên trên vết
phỏng.
- Tránh sự kích xúc bằng cách đê đầu
và vai thấp hơn phần còn lại của cơ
thể và bù đắp cho cơ thể các chất
muối và nước.
- Nếu nạn nhân còn tỉnh, không nôn mửa
và không bị thương cho uống nước mát
hay lạnh trong có hoà lẫn muối. Không nên dùng nước
ấm có thể gây cho nạn nhân mửa.
IV. BĂNG BÓ VẾT THƯƠNG:
A. Mục đích
Giử gìn vết thương khỏi đau vì sự
va chạm bên ngòai và chận vi trùng khỏi lọt
vào thương tích.
B. Săn sóc:
Rửa vết thương bằng nước nấu
chín hay alcool, lấy vải mỏng đả sát
trùng để thấm nước rửa. Cũng có
thể rửa với nước đa canh (liqueur de
dakin), nưóc alilour, nước oxygenee, thuốc tím.
C. Khử trùng:
Thuốc đỏ với vết thương cạn,
thuốc sulfamide với vết thương sâu.
D. Cách băng bó:
- Chọn băng: Tuỳ theo vết thương lớn
nhỏ, vị trí mà chọn băng bông, băng doris
bằng vải.
- Cách cầm băng doris: một tay cầm đầu
băng và tay kia cầm cuộn băng và mở cuộn
băng bằng ngón tay cái.
- Cường độ băng: Khi băng bó tay phải
nhẹ nhàng nếu làm mạnh nạn nhân sẽ
đau nhiều.
- Mở đầu băng: Ðể chừa đầu
băng x và xếp lại được chắc bởi
vòng băng thứ nhì.
- Các loại vòng băng:
* Vòng thưa
* Vòng xoắn dày
* Vòng rẽ quạt
* Vòng số 8
* Vòng xấp
Ð. Nối băng:
- Bằng kim băng tiện và chắc chắn
- Bằng nối chồng lên nhau.
E. Kết băng:
- Băng hai dãi
- Băng ô một dãi
- Băng kim
|
|