| Chương trình
1-Ý
nghĩa Tên trại ...
2-Ý
nghĩa niệm Phật
3-Ý
nghĩa ăn chay
4-Tư
cách & Nhiệm vụ
5-Quy
y Tam Bảo
6-Ý
nghĩa màu Lam
7-Huy
hiệu hoa Sen
8-Trò
chơi
9-Tập
họp
10-Cấp
cứu
11-Bổn
phận đoàn sinh
12-Sổ
sách
Ðề tài tham khảo:
* Cắm
trại |
Cắm trại
Ðội Chúng
I. Nguồn gốc trại:
Thời thượng cổ cuộc sống của
loài người đóng khung trong một căn nhà nhỏ
bé, chật hẹp mà trái lại được lồng
vào khung cảnh bao la, hùng vĩ của trời cao, biển
rộng, hay nơi đồng ruộng rừng sâu.
Chính cuộc sống du mục này đã là một
nguyên nhân khiến con người thích những gì
phóng khoáng.
Khi cuộc sống tập thể của con người
bắt đầu hoạt động trong phạm vi
làng xóm, lúc người thanh niên khôn lớn và sau
khi am tường võ nghệ, lúc đó người
thanh niên bắt đầu đi vào cuộc đời
của một hiệp sĩ, đem tài năng diệt
kẻ tham ô, trộm cướp, chịu đựng
gian khổ, nằm gai nếm mật để mong
được toại chí. Thời gian đi như vậy
ít nhất cũng vài tuần, những người này
gặp nhau cùng với ý nguyện kết bạn với
nhau và cùng sống bên nhau trong những ngày gian khổ.
Cuộc sống hàng ngày càng chật vật họ
càng giúp đỡ lẫn nhau, do đó tình thương
yêu tha thiết giữa người và người
cũng vì đó mà tăng lên. Ðời sống cao thượng
của thiên nhiên đã mang lại cho họ nhiều
trí tuệ, họ cần thắng ý nghĩ không cần
bị đóng khung trong bốn bức tường hẹp.
Rồi với đà văn minh, với ý chí hợp
quần, họ đã thành lập những xã hội
cỏn con sống chung với những người cùng
sở thích, tuy với thời gian quá ít nhưng họ
vẫn cố gắng giúp đỡ lẫn nhau, sống
một ngày gian khổ và thoát vát trong mỗi việc
làm. Từ những sự kiện này, Trại đã
có một khởi nguyên.
II. Ích lợi của trại:
Từ khởi nguyên như trên, ta thấy trại
đã tỏ ra hữu ích về hai phương diện:
A. Ðối với đoàn thể:
Ðời sống đã khiến con người
thương yêu nhau trong những giờ khổ sở,
tìm hiểu được tâm tình nhau trong những
lúc gay go, nhờ đó tinh thần Ðội, Ðoàn mới
có phần tăng trưởng.
B. Ðối với cá nhân: Trại
là trường huấn luyện thanh thiếu niên về
thể, trí, và đức dục vì tại chúng ta mới
có những thú vui hồn nhiên trong sạch.
Ðời sống ở trại làm cho thân thể
tráng kiện, tạo được một sức khỏe
dẻo dai, chống đỡ được với
sương gió, tay chân quen những trò chơi mạnh
dạn, vượt núi băng rừng, sống giữa
thiên nhiên các giác quan đều được
đem ra tận dụng và kiểm nhận một
cách dễ dàng. Cặp mắt được ngắm
nhìn cảnh bao la, được quan sát hiện tượng
thiên nhiên kỳ lạ, những điều mà chính
mình chưa bao giờ thấy. Tai quen phân biệt những
âm thanh, tiếng chim hót chiều chiều trên đồi
núi làm cho họ nhận được là tiếng
chim gì, tiếng xào xạc giữa rừng khô như
có con gì đi lại... Mũi quen với những
hương vị thiên nhiên, một làn gió thoảng
qua mang theo một mùi vị, họ cũng biết nó
lại từ đâu và do những gì phát khởi.
Ðời sống gian lao đem lại nhiều đức
tính tự tin, nhẫn nại, bằng lòng chịu
đựng trên đường đời, giá trị
cần lao cũng được nâng cao, nỗ lực
gắng công trong những giờ thủ công trại.
Ðời sống ở trại thật ích lợi
và cao qúy. Nó làm cho người thanh niên phát triển
mọi năng lực tiềm tàng mạnh nhất chưa
có dịp phát triển, đời sống trại là
đời sống của tự do, cao thượng và
thanh liêm.
III. Dự trại:
A. Chuẩn bị:
Khi được lịnh đi trại, Ðội
Chúng trưởng phải tập họp ngay Ðội
Chúng mình để chuẩn bị cho ngày trại
được chu đáo, phải cho biết thời
gian và địa điểm trại (nếu cần
phải nhờ anh chị Ðoàn trưởng xin phép).
Thông tin đầy đủ, sau đó phải nhắc
lại đồ dùng cá nhân mang theo và chia nhau mang những
đồ dùng chung của Ðội Chúng.
B. Tại trại:
Ðến địa điểm trại phải cho họp
ngay Ðội Chúng, đừng để các Ðội
Chúng sinh đi tản mát; nhận được
địa điểm đóng trại Ðội Chúng
trưởng phải tìm hướng để dựng
lều, nhưng trước khi bắt tay vào việc,
Ðội Chúng trưởng phải đọc lại
bảng phân công, nhắc lại hiệu còi, luật
trại.
C. Bế mạc trại:
Lúc hạ lều cũng như lúc dựng trại,
quanh khu vực trại, phải sạch sẽ, không
được lưu lại một vết tích gì,
đồ đạc mang theo cũng sắp đặt
ngăn nắp, khi về trại cũng có cuộc kiểm
thảo, phê bình để Ðội Chúng sinh có thể
giải bày những thắc mắc, phải kiểm
soát đồ dùng mang đi đừng để Ðội
Chúng sinh thiệt thòi về vật chất.
Sau ngày trại, Ðội Chúng trưởng còn có bổn
phận để ý coi chừng có Ðội Chúng sinh
nào bị bệnh, bị quở mắng không, nếu
có phải cho ban Huynh Trưởng biết để
lo dàn xếp nếu sức mình không đủ lo tròn.
IV. Tổ chức một trại
đội chúng:
Dẫn Ðội Chúng đi trại, tất là ta
đã nắm cả toàn Ðội, Chúng; Mọi việc
làm của Ðội Chúng, người Ðội Chúng trưởng
phải nhận lảnh trách nhiệm. Vì vậy tổ
chức một trại Ðội Chúng, người Ðội
Chúng trưởng phải có cấp bậc ít nhất
là Trung Thiện, hoặc học hết chương
trình Sơ Thiện, phải có đủ khôn ngoan và
lanh lẹ, có như thế mới có đủ sức
bảo đảm Ðội Chúng của mình.
Trại Ðội Chúng phải có sự đồng
ý của toàn đội. Ðội Chúng trưởng
phải xin phép Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng
về nơi cắm trại. Trước khi đến
một địa điểm, Ðội Chúng trưởng
và phó phải đi quan sát địa điểm
trước.
Chổ cắm trại gần nơi có nước
trong lành, xa thị thành để khỏi bị làm
ồn ào trể nãi mất giờ giấc của trại,
nơi cắm trại phải là chổ rộng rãi,
thoáng khí và gần đường tiếp tế
lương thực.
Trại Ðội Chúng phải có mục đích hoặc
gây thêm tinh thần, hoặc để thi chuyên môn.
Trong buổi họp trước ngày trại phải
phân chia công việc, trình bày kế hoạch và không
quên kiểm điểm lần cuối.
Phải cho Ðội Chúng sinh có nhiều giờ nghỉ
ngơi để ngày mai có sức khỏe tiếp tục.
Ðừng để cho Ðội Chúng sinh phí sức
trong cuộc vui nào dù nhỏ hay lớn.
V. Ðồ dùng của trại:
A. Ðồ dùng của Ðội
Chúng:
1.Nên dùng
đèn bão.
2.Toile de tente, phải
đủ để đóng và lót trại cho sạch
sẽ
không được lủng
rách hay quá nhớp.
3.Dụng cụ nấu
ăn phải đầy đủ.
4.Dụng cụ làm
thủ công trại: rựa, cuốc, và dao.
5.Hộp cứu
thương: phải đầy đủ thuốc
để cấp cứu khi đi đường và
trong khi chơi.
6.Linh tinh: ống
thổi lửa, cờ truyền tin.
B. Ðồ dùng của trại
sinh:
1. Ðồ
chuyên môn:
a) Viết
chì, nguyên tử
b) Sổ
tay
c)
Dây (tối thiểu 5 met)
d)
Còi, gậy
e) Cờ,
địa bàn
f)
Ðèn bấm
2. Ðồ ngủ:
a) Mền,
túi ngủ
b) Quần
áo ngủ
c) Vải
lót
d) Giấy
báo (5 tờ)
3. Ðồ vệ sinh:
a)
Bàn chải, kem đánh răng
b) Ca
hay ly
c) Giấy
vệ sinh
4. Ðồ nấu
ăn:
a) Gạo
và đồ ăn sáng
b)
Gia vị
c)
Chén, đũa, nĩa, muỗng
d) Nồi,
xoong để nấu, rổ, muỗng lớn
e)
Dao nhỏ, diêm, củi, thùng xách nước, ấm
nước
5. Một cái trại:
a) Cổng
trại: Giản dị nhưng hợp nhãn
b) Bếp
trại: Tối thiểu phải hai bếp. Bếp trại
phải đặt nơi khuất gió và
dưới
gió đối với liều (để tránh khói
vào và tàn bay khỏi cháy lều).
c) Nơi
đặt bếp phải sạch sẽ và người
không phận sự không lai vãng
d) Ðường
mương: Thoát nước cho mau lẹ và không tạo
thành vũng.
e) Hố
rác: Phải đào gần bếp.
VI. Những đặc tính của
trại:
- Ðạo: Từ địa điểm, đồ
dùng cho đến hình thức trại sinh
- Ðạo vị: Thể hiện tinh thần của người
con Phật
- Ðầy đủ: Từ đồ dùng, giờ nghĩ
cho đến thủ công trại
- Sạch sẽ trong toàn khu trại
- Tươi: Tô điểm trại bằng tiếng
hát giọng cười
- Hoặc không ai được nghĩ hay chơi
trong khi mọi người đều làm
- Lanh: Tháo vác, lanh lẹ trong mọi công việc
- Khỏe: Không thiếu ngủ, thiếu ăn, uống,
quá mệt, hao tốn thì giờ
- Phải có lợi: Về hiểu biết, sức khỏe,
tình thân ái, tình đồng đội
Phải làm việc thiện: Ðó
là phương tiện để làm tăng niềm
vui cho kẻ khác.
|
|