|
Trại
Huấn Luyện |
| Chương trình Trại Huấn Luyện HUYỀN-TRANG.
I. Tổng quát 4 bài III Phật giáo 4 bài IV Điều động 5 bài
***
|
Phần
II - Phật Pháp:
4 bài Bài 4 HUYỀN TRANG PHÁP SƯ VỚI ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO
I.
DẪN NHẬP
Vào
khoảng 100 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn, phái Bảo Thủ Y
Giáo Phụng Hành, gìn giữ lời Phật, trùng tuyên nguyên ý.
Nhóm Cải Tiến có ý canh tân, sanh ra các dị kiến. Ngài Da
Xá thấy thế, cản ngăn không được, liền đi triệu tập
các vị Trưởng Lão Tăng về nhóm họp tại thành Tỳ Xá Lỵ
(nơi trú cứ của nhóm Cải Tiến) để giải quyết các vấn
đề được coi là phi pháp. Nhưng không hóa giải được,
nhóm Tỳ Kheo Bạt Kỳ biệt lập thành một phái. Đây là sự
phân hóa đầu tiên. Nhóm do ngài Da Xá triệu tâp, hội họp
trùng tuyên kinh luật Phật dạy, sau gọi là Kiết Tập lần
thứ hai; nhóm này đa số các vị Trưởng lão nên gọi là Thượng
Tọa Bộ. Nhóm Cải Tiến đa số các vị Tăng trẻ tuổi đông
đảo hơn nên gọi là Chúng Bộ. Đại
Chúng Bộ về sau phát triển thành Đại Thừa Phật Giáo. Từ
khi phân lập, việc tranh luận xảy ra giữa hai phái rất thường
và kéo dài rất lâu. Mấy chục năm sau cho đến khi Mahadeva (Đại
Thiên) xuất hiện, đề xướng tân thuyết 5 điểm, thì Phật
giáo mới thực sự chia thành hai Bộ phái: Thượng Tọa Bộ
(Tiểu Thừa), Đại Chúng Bộ (Đại Thừa). Và cho đến khi
Ngài Mã Minh viết bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận, Chánh pháp
chuyển thành hai bộ phái Đại Thừa và Tiểu Thừa một cách
phân minh. Song song với sự phát triển của hai hệ phái, các
Luận Sư mỗi thời thường tranh luận để lý giải với nhau
làm giàu thêm cho tạng Luận. Ngài Huyền Trang là một trong
những luận sư xuất sắc, đã làm rạng rỡ giáo nghĩa Đại
thừa Phật Giáo. II.
TIỂU SỬ PHÁP SƯ HUYỀN TRANG
Huyền
Trang tục danh là Trần Vỹ, sinh năm Khải Hoàn thứ 16, đời
nhà Đường (595) ở huyện Hầu Thị, châu Lạc Xuyên. Thân
sinh là Trần Huệ, trước làm quan ở Giang Lăng, nhận thấy
tình thế nhiễu nhương, cáo quan về quê dạy học. Trần
Huệ có bốn con trai, Huyền Trang là con út, người anh thứ
hai làm Hòa Thượng ở chùa Tịnh Độ đất Lạc Dương. Thuở
nhỏ Ngài theo Nho học, trong những buổi đến thăm anh ở
chùa Tịnh Độ, Ngài thuờng ở lại nghe kinh, Pháp, với trí
tuệ khác thường Ngài lãnh hội được lý nghĩa Đại Thừa
rất sâu rộng. Từ đó Ngài bỏ Khổng, quy y theo Phật Giáo. Năm
13 tuổi, Ngài được vị chủ khảo, quan Khâm Sai Trịnh
Thiện Quả, đặc cách cho miễn tuổi do sự đối đáp thông
minh trôi chảy. Ngài được dự vào cuộc sát hạch tuyển
chọn Tăng sĩ triều đình và trúng tuyển. Sự nghiệp lớn
bắt đầu từ đây. Ngài
có vóc dáng đẹp đẽ, phong quang rực rỡ, có nhiều tăng
mỹ tướng. Chính Trịnh Thiện Quả đã dựa vào phong mạo
của Ngài để biện bạch cho sự quyết định của mình:
"Tòng nghiệp mà học đạo cho thành thì dễ, chớ phong
cốt luyện cao được thì khó lắm. Cậu bé Trần Vỹ này
nếu được làm Tăng, tất nhiên sẽ thành vị Cao Tăng Đại
Đức trong chốn Thiền Môn không ai sánh kịp". Ngài
chính thức xuất gia tại Chùa Tịnh Độ. Về sau đất Lạc Dương
biến loạn, anh em Ngài đi về Trường An, tu tại chùa Trang
Nghiêm. Rồi vì Trường An gặp lúc khó hành đạo, các Ngài
dời đến Thành Đô tại Chùa Khuông Tuệ. Năm 27 tuổi, Ngài
vân du khắp Trung Quốc để cầu học với các danh Tăng Hoa,
Ấn. Dù đã đạt đến trình độ siêu việt, các giáo nghĩa
của Đại Thừa vẫn chưa thỏa mãn khát vọng của Ngài. Năm
31 tuổi Ngài bắt đầu cuộc Tây du. Trải qua vô vàn gian
khổ, cuối cùng Ngài đã đạt được ước vọng không lường
của mình. Đi đến nơi,về đến chốn, năm 50 tuổi Ngài
trở về Trường An. Ngài được vua quý trọng, xem như quốc
bảo và ban làm ngự đệ. Ngài đã làm nên một sự nghiệp
thế kỷ, dịch 75 bộ 1.335 quyển kinh từ chữ Phạn ra chữ
Hán. Ngài
mất năm 664 tại Trường An khi trong tay đang cầm bút dịch
kinh Đại Thừa. Đường Cao Tôn rơi lệ, bãi Triều 3 ngày và
than thở: "Trẫm nay mất rồi một người quốc
bảo". Một triệu người tham dự đám tang, ba mươi ngàn
người lập lều ở quanh mộ Ngài tại Bạch Lộc Nguyên.
Hình ảnh Ngài được phổ cập khắp thế giới, nhất là Đông
Nam Châu Á, trong đó có Việt Nam qua sự tích Đường Tam
Tạng Thỉnh Kinh (Tây Du Ký). III.
NGÀI HUYỀN TRANG XIỂN
DƯƠNG ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO
1-
Tại Trung Quốc:
Huyền
Trang trước khi xuất gia thường nghe Pháp Đại Thừa tại
chùa Tịnh Độ, với lợi căn thông tuệ, Ngài lý hội tất
cả kinh điển nghe qua. Do đó khi phát tâm xuất gia, Ngài đã
ý thức được một trong năm đức lớn: "Chỉ cầu Đại
Thừa vị độ nhân cố". Như thế khi xuống tóc xuất
gia, Ngài đã bắt đầu phát bồ đề tâm: "Trên cầu
Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh". Tâm bồ đề ấy
Ngài đã tuyên dương qua câu trả lời với vị Chánh chủ
khảo: "Tôi muốn xa
nối chí chư Phật, gần hoằng dương Chánh Pháp". Để
thực hiện chí nguyện, Ngài đã đi tìm cầu học khắp Trung
Quốc với các vị Cao Tăng thạc đức. Song kinh điển truyền
sang thời đó còn hạn chế, việc lý giải, dịch thuật chưa
đáp ứng được chí tiến tu của Ngài mặc dù Ngài đã say
mê tìm học đến quyên ăn bỏ ngủ. Vào thời đó, Ngài là
vị Giảng Sư trẻ tuổi nhất, đã đăng đàn giảng kinh
Niết Bàn, bộ kinh Đại Thừa uyên thâm nhứt. Năm 31 tuổi
Ngài gặp học giả nổi tiếng là Pháp Sư Phạ Mật Đa Na,
học trò xuất sắc của Ngài Giới Hiền từ Trung Ấn qua,
Ngài được giải tỏa nhiều nghi vấn. Và thế là chí Tây Du
của Ngài được quyết định. 2-
Tại Ấn Độ: Với
chí nguyện học tận gốc, tìm cho ra chân nghĩa Đại Thừa, năm
mươi vạn dặm đường dài từ Trung Quốc qua Ấn Độ, phải
vượt suối trèo non, băng qua
sa mạc nắng cháy, những đêm lạnh cóng xương, một mình
một ngựa đối đầu với muôn ngàn khó khăn nguy hiểm,
mạng sống như treo đầu sợi tóc. Với chí nguyện Đại
Thừa "Hủy thí thân mạng, tôn sùng đạo cố" là
một trong năm đức của người xuất gia. Chí nguyện và lòng
cầu nguyện Bát Nhã Tâm Kinh niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Và
đây câu trả lời dứt khoát, khi vua nước Cao Xương Khúc Văn
Thái lưu luyến giữ Ngài lại: "Đại Vương có thế giữ
được hài cốt của bần đạo thôi, chứ tinh thần ý chí
của bần đạo thì Đại Vương không thể giữ được".
Và chí nguyện sắt đá của Ngài cũng thành tưụ qua 24 bức
thư giới thiệu với 24 tiểu quốc của vua Y Ngô. Ngài
đến đất Phật, một mặt chiêm bái các Phật tích tòng
lâm, mặt khác Ngài tầm học các Kinh Luận bằng Phạn văn
của cả Đại lẫn Tiểu Thừa (như Câu Xá Luận của Thế
Thân, Thành Thật Luận của Ha Lê Bạt Ma) với các vị Pháp sư
danh tiếng: Nhưng có lẽ nổi bật nhất là Ngài được Pháp
sư Giới Hiền, lúc bấy giờ đã 105 tuổi, vẫn phá lệ khai
đàn giảng lại bộ Du Già Sư Địa Luận trong 15 tháng (đặc
biệt cho Ngài Huyền Trang) tại tu viện Nalanda, một ngôi
Phật Tự được coi là tráng lệ nhất - đại học Phật
giáo xưa nhất Ấn Độ, một trung tâm văn hóa xứ Phật,
chứa tất cả Kinh Luận Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, kinh
Phệ Đà cho đến sách Gia Chu Tử. Sau ba năm Ngài đã thông
suốt: -
03 thiên bộ
Du Già Sự Địa Luận -
01 thiên bộ
Thuận Chánh Địa Luận -
01 thiên bộ
Hiến Dương Đối Phá -
02 thiên của
các bộ Nhân Minh, Thanh Minh Tập luận -
03 thiên của
các bộ Trung Luận, Bách Luận. Và
quan yếu nhất là giải tỏa được nhiều điểm nghi ngờ
trong các Kinh Luận Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Trong
vòng sáu năm, Ngài đã đi khắp Đông, Tây, Nam, Bắc xứ Trung
Ấn Độ, qua trên 100 nước lớn nhỏ, đọc, học, ghi chép,
lý giải thông qua các Kinh Luận, sách vở tàng trữ trong các
thư các, đền, chùa, ghi chú thứ tự từ phong tục, tập
quán, điạ lý, thiên văn, đặc sản v.v... rất có hệ
thống. Đỉnh cao và công hạnh lớn nhất của Ngài đối với việc xiển dương giáo nghĩa Đại Thừa tại Ấn Độ là việc tranh luận sôi nổi nhất, có tính cách quyết định sự hưng vong của Đại Thừa Phật Giáo. Ngài dùng lý luận sắc bén, trí tuệ bao trùm, bẻ gãy 700 bài luận huênh hoang là vô địch "Phá Đại Thừa" của Bát Nhã Cúc Đa, một Luận sư uyên thâm có nhiều thế lực của phái Tiểu Thừa. Bằng 1.600 bài Phá Ác Kiến Luận, Ngài Huyền Trang đã đánh tan mọi mê chấp của phái Tiểu Thừa. Cao hơn nữa làm cho các Luận sư pháp Tiểu Thừa tâm phục, khẩu phục. Phá Ác Kiến Luận có giá trị siêu việt tuyệt đối đến nỗi vua Giới Nhật, một vị vua hùng mạnh nhất xứ Trung Ấn đã tuyên cáo: Nếu ai tìm thấy một chữ sai lầm vô lý, có thế bác bỏ được thì Trẫm xin cắt đầu để tạ ơn. Sau 18 ngày Ngài ngồi ghế luận chủ, Huyền Trang đã đánh bạt tất cả luận điểm sai trái, xiển dương giáo lý Đại Thừa rực rỡ trên đất Phật. Lý lẽ vững chắc, trí tuệ sắc bén của Ngài đã làm cho nhiều Pháp sư, học giả bỏ ngay tà kiến và quy ngưỡng theo Đại Thừa tại chỗ. Tất cả Vương Tôn Công Tử, Đại Thần... tuân phục, ca ngợi Ngài không ngớt. Chính họ đã tranh nhau cúng dường Ngài vô số châu báu, lụa là, Ngài đều hồi hướng từ chối tất cả. Khi ấy vua đành lấy bộ tăng phục của Ngài đặt lên kiệu voi trắng với lời hiệu triệu truyền ra cho công chúng: "Vị Pháp Sư Trung Quốc đã kiến lập Đại Thừa và phá hủy tất cả mọi tà thuyết trong 18 ngày không ai dám đối lập. Nay tin cho công chúng biết". Ba mươi lăm ngày tiếp theo, Giới Nhật Vương, cung thỉnh Ngài minh chứng đại hội Vô Già tại Bản La Đa Già quốc (Prayaga). Số người tham dự lên tới 50 vạn. Đàn đại thí bày ra một tháng mới đủ và hội trường mới giải tán. 3- Trở về cố hương: Nếu ở Ấn Độ Ngài là một học giả, một Luận sư danh tiếng, khi trở về Trung quốc Ngài là một nhà trước tác dịch thuật đại tài. Ngài dâng trọn cuộc đời còn lại cho việc phổ cập Kinh Luận Đại Thừa mà Ngài đã học hỏi, nghiên cứu suốt hai mươi năm. Năm 664 Ngài thành lập Hội Đồng Phiên Dịch chia thành nhiều nhóm. § Nhóm thứ nhất: Vị Dịch chủ tinh thông Phạn văn- Hán văn (Ngài Huyền Trang) § Nhóm thứ hai: Chuyên dịch từ Phạn văn ra Hán văn § Nhóm thứ ba: Chứng nhận xác định đã dịch đúng Phạn văn § Nhóm thứ tư: Nhuận văn sửa lại cho đúng văn pháp Trung Hoa. § Nhóm thứ năm: Nhuận nghĩa, so bản dịch với nguyên bản. § Nhóm thứ sáu: Duyệt xét lần cuối. Tổng số Kinh Luận đã được dịch là 75 bộ gồm 1.335 quyển, trong đó có hai pho lớn nhất là: · Đại Tỳ Bà Sơ Luận 200 quyển · bộ Định Đạt Bát Nhã gồm 600 quyển. Phương pháp dịch thuật, làm việc của Ngài thật chu đáo, khoa học, tiến bộ có thể nói vô tiền khoáng hậu như chuyến Tây du của Ngài vậy. Nhờ công trình dịch thuật vĩ đại của Ngài mà Đại Thừa Phật Giáo được phát khởi mạnh mẽ ở Trung Quốc và các nước phía đông như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. IV. KẾT LUẬNHuyền Trang một mình một ngựa ngàn dặm gian lao, du học khắp xứ Ấn Độ, học vấn thành tựu, biện tài vang khắp, công thành quả mãn, Ngài đã tiếp bước Mã Minh với Đại Thừa Khởi Tín Luận, Ngài Long Thọ với Trung Quán Luận; Vô Trước, Thế Thân với Thành Duy Thức Luận. Huyền Trang có 1.600 tụng Phá Ác Kiến Luận đã nhiếp phục tất cả những kẻ đối nghịch cả hai phái Đại và Tiểu Thừa. Tại bản xứ Ấn Độ thắp sáng chói ngọn đuốc trí tuệ Đại Thừa, đưa Đại Thừa lên đỉnh cao hưng thịnh, kết thúc việc tranh luận giữa hai bộ phái kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Dân Ấn người Đại Thừa tôn xưng Ngài là Đại Thừa Thiên (Ông trời Đại Thừa). Những vị Tiểu Thừa xưng tụng Ngài là Mộc Xoa Đề (Giải Thoát Thiên hay Trời Giải Thoát) ____________________ Tài liệu tham khảo: -
Huyền Trang Nhà Chiêm Bái và Học Giả ( Do Tỳ Kheo ni Thích
Nữ Trí Hải dịch từ bản tiếng Anh " Hsuan Tsang, The
Pilgrim and the scholar " của Hòa Thượng Minh Châu). -
Huyền Trang Pháp Sư của Thượng Tọa Trí Quang. -
Tài liệu Huyền Trang 93 BHD Long Khánh.
|
|
