|
Trại
Huấn Luyện |
| Chương trình Trại Huấn Luyện HUYỀN-TRANG.
I. Tổng quát 4 bài III Phật giáo 4 bài IV Điều động 5 bài
***
|
Phần
II - Phật Pháp:
4 bài Bài 2 BÁT CHÁNH ĐẠO I. MỞ ĐỀTrong 37 món trợ đạo, Bát Chánh Đạo là một pháp môn thường được coi như là pháp môn chính, được nhắc nhở đến nhiều nhất. Vì thế, khi nói đến Đạo Đế là người ta liên tưởng đến Bát Chánh Đạo. Thậm chí có người tưởng lầm rằng Đạo Đế với Bát Chánh Đạo là một. Sở dĩ Bát Chánh Đạo được xem là pháp môn chính của Đạo Đế vì pháp môn này rất đầy đủ có thể bao gồm được các pháp môn khác của Đạo Đế. Nó rất phù hợp với mọi căn cơ, mọi thời đại,mọi phương sở, đối với Tiểu Thừa cũng như Đại Thừa, người Đông phương cũng như Tây phương ai ai cũng đều công nhận giá trị hoàn toàn cao cả của Bát Chánh Đạo, và đều áp dụng, pháp môn này trong sự tu hành của mình để đoạn trừ phiền não, khổ đau, hầu bước lên con đường giải thoát, an vui, tự tại. II. CHÁNH ĐỀA- Định nghĩa Bát Chánh Đạo Bát Chánh Đạo là tám con đường ngay thẳng, hay tám phương tiện mầu nhiệm đưa chúng sinh đến đời sống chí diệu. Người ta cũng có thể dịch nghĩa "Bát Chánh Đạo" là con đường chính có tám ngánh, để đưa chúng sinh đến địa vị Thánh. Cũng có khi người ta gọi Bát Chánh Đạo là "Bát Thánh Đạo" vì cái diệu dụng của nó sau đây: · Những kẻ phàm phu học đạo, noi theo pháp môn này mà tu, thì khỏi lầm lạc vào nẻo nguy hiểm, lần hồi sẽ chứng được quả Hiền Thánh. · Những bậc Hiền, Thánh nương theo tám phương tiện này sẽ đi đến cảnh Niết Bàn. Bát Chánh Đạo gồm có: - Chánh Kiến - Chánh Tư Duy - Chánh Ngữ - Chánh Nghiệp - Chánh Mạng - Chánh Tinh Tấn - Chánh Niệm - Chánh Định B- Nội dung và giá trị mỗi thành phần của Bát Chánh Đạo. 1. Chánh Kiến: Chánh là ngay thẳng, đứng đắn; Kiến là thấy; nghe hay biết một các ngay thẳng, công minh, đúng với sự thật khách quan. Người có chánh kiến thấy như thế nào thì nhận đúng như thế ấy, không lấy trắng làm đen, xấu làm tốt, dở làm hay, hay trái lại. Sự nhận xét sự vật của người ấy không bị tập quán, thành kiến, dục vọng ngăn che hay làm sai lạc. Người có chánh kiến biết phân biệt cái nào giả, cái nào thật. Và khi đã biết cảnh giả, vật dối, thì mắt không chăm, tâm không chú; còn khi rõ biết cảnh vật thật, lời lẽ chân thì chuyên tâm vào sự lý chân thật làm cho đèn huệ sáng ngời, tiền trần không phương che án được. 2. Chánh Tư Duy: Tư duy là suy nghĩ, nghiệm xét; nó thuộc về ý thức. Chánh Tư Duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh, tư tuởng đúng với lẽ phải. Người tu theo Chánh Tư Duy, thường xét nghĩ đạo lý cao siêu, suy tìm thể tánh nhiệm mầu, biết xét những hành vi lỗi lầm, những ý nghĩ xấu xa để sám hối; biết suy nghĩ về ba món vô lậu học: Giới, Định, Huệ, để tu giải thoát; biết suy xét vô minh là nguyên nhân đau khổ, là nguồn gốc của tội ác, và tìm phương pháp đứng đắn để tu hành hầu giải thoát cho mình và cho người. 3. Chánh Ngữ: Ngữ là lời nói: Chánh Ngữ là lời nói chân thật, công bình, ngay thẳng và hợp lý. Người tu theo Chánh Ngữ, không bao giờ nói sai thật, không thiên vị, thấy dở nói hay, không xuyên tạc, nghe một đường nói một ngả. Người theo Chánh Ngữ rất thận trọng lời nói; trước khi muốn nói gì phải suy nghĩ coi có lợi ích và chân thật không. Xưa đức Khổng Tử vào viếng chốn cổ miếu, thấy bức tranh họa một hình nguời bị kẹp miệng ba lần, ngài quay lại dạy môn đệ phải cẩn thận lời nói. Ngày xưa, trước khi đức Phật sắp nhập Niết Bàn, có đệ tử hỏi: - Bạch đức Thế Tôn, khi Phật nhập Niết Bàn rồi, người đời sau gặp nhiều sách vở ngoại đạo, không sao phân biệt với Kinh Phật, như thế, biết tin theo lời nào tu? Phật dạy: - Chẳng luận là lời nói của ai miễn lời ấy đúng sự thật, hợp chân lý thì cứ tin theo mà tu. Vậy, phàm những lời nói đúng, hợp lẽ, có lợi ích cho toàn thể chúng sinh là chánh ngữ. Những lời nói ấy chúng ta phải tin theo và tập nói cho đúng như thế. 4. Chánh Nghiệp: Nghiệp là do người Trung hoa dịch chữ Phạn Karma mà ra. Nghiệp hay Karma nghĩa là hành động tạo tác. Chánh Nghiệp là hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lý, có lợi ích cho người lẫn vật. Người theo đúng "Chánh nghiệp" là người luôn luôn thận trọng, giữ gìn mọi hành động của mình, để khỏi làm tổn hại đến quyền lợi, nghề nghiệp, địa vị, danh giá, hạnh phúc, tánh mạng của người khác. Hơn nữa người theo đúng chánh nghiệp bao giờ cũng tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của mình, luôn luôn hành động có lợi cho mọi người, mọi vật; và nếu cần, có thể hy sinh quyền lợi hay tánh mạng mình để giải thoát nỗi đau khổ cho người khác Ngoài ra, cũng gọi là Chánh nghiệp, khi dùng trí huệ để quán tưởng những pháp chân chính, hoặc ngồi thiền, niệm Phật, hoặc trì tụng kinh hành, để giữ gìn thân, khẩu, ý ba nghiệp cho thanh tịnh. 5. Chánh Mạng: Mạng là sự sống, đời sống. Chánh Mạng là sinh sống một cách chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện, trong sạch của mình. Người theo đúng Chánh mạng sống một cuộc đời ngay thật, không gian tham, không làm giàu có trên mồ hôi, nước mắt của người khác, không làm cho người và vật phải đau khổ vì nghề nghiệp của mình. Người theo đúng Chánh mạng sống một cuộc đời có ý nghĩa lợi mình, lợi người, xứng với bát cơm mình ăn, mãnh áo mình mặc chứ không ăn không ngồi rồi, sống bám vào người khác. Người theo Chánh mạng sống đúng chánh pháp, không mê tín dị đoan và biết thân tứ đại vốn vô thường, nên lấy tịnh giới làm thể, lấy trí huệ làm mạng, bỏ niệm vọng cầu, an vui với chánh pháp. 6. Chánh Tinh Tấn: Chữ tinh tấn ở đây cũng cùng nghĩa như tinh tấn đã nói là chuyên cần, siêng năng, thẳng tiến đến mục đích đã vạch sẳn không vì một lý do gì mà lùi bước. Chánh Tinh Tấn là chuyên cần, siêng năng làm việc chính nghĩa, lợi lạc cho mình cũng như cho người và vật. Người theo đúng Chánh Tinh Tấn, trước tiên, bao giờ cũng hăng hái sửa mình, cương quyết bài trừ những điều ác, quyết tâm phát triển mọi hạnh lành (xem Tứ Chánh Cần). Người theo đúng Chánh Tinh Tấn, dũng mãnh tiến lên trên đường đi đến giải thoát, cho đến lúc nào đạt được mục đích cao cả, cùng tột ấy mới thôi. Nói tóm lại, người theo đúng Chánh Tinh Tấn, quyết tạo nghiệp vô lậu xuất thế gian, lấy chánh trí làm mãnh lực, lấy Niết Bàn làm chỗ quy hướng, một lòng chẳng trễ, muôn kiếp không dời, cố gắng công phu, quyết định thành đạo quả để trước tự độ, sau hóa độ chúng sanh. 7. Chánh Niệm: Niệm là ghi nhớ. Chánh niệm là ghi nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình, cho nguời, những đạo lý chân chính quý trọng cao siêu. Chánh niệm có hai phần: - Chánh Ức Niệm: là nghĩ nhớ đến các điều lỗi lầm để thành tâm sám hối và nghĩ nhớ đến Tứ Trọng Ân: ân cha mẹ, ân tổ quốc, ân chúng sinh và ân Tam bảo để lo báo đền. - Chánh Quán Niệm: là dùng tâm từ bi xét nghĩ cuộc đời là khổ não, tật bệnh, mê mờ mà chúng sanh đang mắc phải, để mở rộng lòng thương yêu và quyết ra tay cứu độ. Người theo đúng Chánh Niệm, thường quán sát cảnh chân để năng tưởng niệm các pháp trợ đạo, bất luận ở đâu và làm gì, cũng nhớ nghĩ đến cái quả vô lậu xuất thế gian, dù trải qua bao nhiêu số kiếp cũng không thối tâm xao lảng. 8. Chánh Định: Chữ "Định" ở đây cũng đồng nghĩa như những chữ định trong các bài trước, nghĩa là tập trung tư tưởng vào một vấn đề gì, để thấy cho rõ ràng. Chánh Định là tập trung tư tưởng vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình cho người. Người theo đúng Chánh Định, thường tập trung tư tưởng để quán sát những vấn đề chính sau đây: - Quán thân bất tịnh (bất tịnh quán) tức là quán tưởng thân không thanh tịnh, để trừ tham dục, si ái (xem đoạn quán thân bất tịnh trong Tứ Niệm Xứ) - Quán Từ Bi (từ bi quán) là quán tưởng tất cả chúng sanh đều là một chân tâm, bình đẳng không khác, để đoạn trừ thù hận và mở rộng lòng thương yêu để cứu độ chúng sanh. - Quán nhân duyên (nhân duyên quán) là quán tưởng tất cả pháp hữu hình như muôn vật, vô hình như tâm niệm đều là giả hợp, duyên nhau mà có, chứ không có một cách chân thật, không thường tồn, để đoạn trừ ngu si, pháp chấp. - Quán hơi thở (sổ tức quán) nghĩa là quán tưởng bằng cách chuyên chú đếm hơi thở ra vào, đối trị sự tán loạn của tâm thức. III. KẾT LUẬNNhư đã nói ở đoạn mở đề, Bát Chánh Đạo là pháp môn rất được thông dụng. Sự thông dụng này sở dĩ có được là nhờ lợi ích thiết thực và quý báu của nó đối với đời sống cá nhân của người tu hành, đối với xã hội, và đối với đời sống tương lai. Có thể tóm tắt những lợi ích, hay công năng của Bát Chánh Đạo trong ba điểm sau đây: 1. Cải thiện tự thân: Nếu con người chuyên tu theo tám đường chánh này, thì sửa đổi được tất cả mọi sự bất chính, mọi tội trong đời sống hiện tại của mình, như ý niệm mê mờ, ngôn ngữ đảo điên, hành vi sai quấy, đời sống vô luân. Khi những điều trên đây đã được cải thiện, thì tất cuộc đời riêng của mỗi người sẽ chân chính, lợi lạc và thiện mỹ. 2. Cải thiện hoàn cảnh: Nếu trong xã hội ai ai cũng để tâm chuyên tu theo tám đường chánh này, thì cảnh thế gian sẽ an lành, tịnh lạc, không còn chiến tranh xâu xé giết hại lẫn nhau. 3. Sẽ chứng quả Bồ Đề: Người chuyên tu theo tám đường chánh này, không những có nhiều lợi lạc trong cuộc đờ hiện tại mà còn gây tạo cho mình một tương lai tươi sáng, gieo trồng cho mình những hạt giống Bồ Đề để ngày sau gặt hái quả vô thượng Niết Bàn, đầy đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Vì những lợi ích quý báu như thế, mọi Phật Tử hãy phát nguyện cương quyết tu theo Bát Chánh Đạo.
|
|
