|
Trại
Huấn Luyện |
| Chương trình Trại Huấn Luyện HUYỀN-TRANG.
I. Tổng quát 4 bài III Phật giáo 4 bài IV Điều động 5 bài
***
|
Phần
II - Phật Pháp:
4 bài Bài 1 MỤC
NGƯU ĐỒ
I.
DẪN NHẬP
Diễn
giải về TÂM, trong hầu hết kinh điển của Phật, Tổ cũng
như nhiều bài giảng, sách vở của chư vị cao Tăng, Thiền sư,
học giả thường dùng nhiều danh từ và phương pháp khác
nhau để người học Phật tùy theo trình độ, căn cơ, khả-năng,
hoàn cảnh dễ nhận được và Tu sửa. Về danh từ, trong kinh
Bát-nhã gọi Bồ đề vì lấy giác làm bản thể hoặc Niết
bàn vì chỗ quy hướng của chư Thánh; kinh Hoa Nghiêm gọi Pháp
giới vì giao triệt và dung nhiếp; kinh Kim Cang gọi Như lai vì
không từ đâu đến; kinh Bồ Tát giới gọi Tâm địa vì hay
phát sinh muôn việc lành ...Về thể tánh, kinh Lăng nghiêm
chỉ các vọng tâm để suy ra chân tâm, Duy thức chỉ hệ
thống kết hợp và chuyển hóa, kinh Kim cang chỉ phương pháp
hàng phục và an trụ... Trong một số ví dụ, quý Ngài lại
thường dùng mặt gương, viên ngọc, mặt trăng, sóng nước,
dòng điện...Trong hàng trưởng-tử Như lai nhận thấy Miền
Đông Á chúng ta đại đa
số dân chúng sống về nông nghiệp và hình ảnh con Trâu
gần gủi, thân thuộc nhất đối với mọi người nên mượn
Con Trâu và Người Chăn để chỉ nghĩa lý vi diệu của TÂM -
một Pháp vô hình, trừu tượng, không thể nghĩ bàn, lại có
khả năng đảo lộn vũ trụ, xoay chuyển kiếp người: giải
thoát, giác ngộ thành Phật hoặc mãi mãi luân hồi trong sáu
nẽo. Vì thế mà Mười Bức Tranh Chăn Trâu được ra đời.
Người Huynh-Trưởng GĐPT vừa tu học lại vừa còn
bổn phận dẫn dắt đoàn em. Trúng cách trại Huyền Trang, anh
chị sẽ đãm trách phần hành cấp Liên đoàn hoặc trong Ban Hướng
Dẫn. Trọng trách ở vai trò lãnh đạo đòi hỏi anh chị
phải luôn luôn là tấm gương để các em noi theo, do đó vấn
đề Thân Giáo phải đặt lên hàng đầu, thường xuyên tự
kiểm việc tu việc học của
mình. Qua Mười Bức Tranh Chăn Trâu, chúng ta có thể tự
kiểm từng giai đoạn tu học. Nhờ đó mà không chán nản
thối bồ đề tâm hoặc tu ít mà tưởng nhiều sanh tự cao ngã
mạn để rồi bị sa đọa! II.
XUẤT XỨ
Tranh Chăn Trâu tức Mục Ngưu Đồ ra đời từ triều-đại nào, dưới ngọn bút lông nào, khó mà tra cứu cho đích-xác dược. Điều chắc chắn là tranh có từ xa xưa lắm, ban đầu chỉ có sáu bức, sau thất lạc luôn. Mãi đến đời nhà Tống, thế kỷ XII, nhiều bộ tranh mới bắt đầu xuất hiện từ các tòng lâm, thiền-viện, phản ảnh nhiều khuynh-hướng khác nhau trong sự tu-tập. Như vậy không phải chỉ có một bộ, mà nhiều bộ 'mục ngưu đồ' khác nhau, tất cả đều đượm nhuần tinh-thần Phật-giáo Bắc-Tông. Trong số ấy hiện nay được truyền tụng nhất là tranh của hai họa-sĩ áo nâu Thanh-Cư và Quách-Am. Tuy có nhiều bộ tranh, nhưng bộ nào cũng như bộ nào, đều có 10 bức, mỗi bức có một bài tụng bằng thơ tứ-tuyệt, và một bài chú giải bằng văn xuôi. Đó là về hình thức. Còn về tinh-thần thì tranh tuy có nhiều, nhưng có thể xếp thành hai loại : loại tranh theo khuynh-hướng Đại-thừa và loại tranh theo khuynh-hướng Thiền-Tông. Trong hai loại, tranh vẽ sai khác nhau hết, nhưng bài tụng và chú riêng cho mỗi loại vẫn không thay đổi.
Vì phạm vi
hạn hẹp của tài-liệu huấn luyện, chúng tôi không
ghi nguyên văn các bài tụng bằng Hán văn, mà chỉ ghi lời
dịch qua văn xuôi, cùng lời giải về ý nghĩa của từng
bức tranh, dựa theo tài liệu của Hòa-Thượng Thích Thanh-Từ
và Trúc-Thiên. III.
TRANH ĐẠI THỪA
A.
- NỘI DUNG Đề-tài chung của các loại tranh chăn trâu là đường lối tu-tập. Đường lối tuy nhiều, song không ngoài việc BẮT TÂM. Nên thập mục ngưu đồ có thể coi như lời giải đáp cho câu hỏi trong kinh Kim-Cang : 'Vân hà hàng phục kỳ tâm?' (làm sao làm chủ được cái tâm?) Tâm ở đây
là con trâu. Vì có trâu
nên có mục-đồng. Vì có tâm nên có cảnh. Tãt cả cố
gắng của Đại-thừa đều nhằm vào sự 'cột' trâu, tức là
'điều tâm ' vậy. Tâm là con trâu hoang. Muốn trị
nó phải dùng những biện pháp mạnh, như đánh bằng
roi, xỏ mũi bằng dây ... Cũng vậy, muốn trị tâm, cần quy
y, giữ giới cấm, phát tâm bồ-đề ... Lâu ngày chầy tháng,
trâu trở nên thuần-thục, tâm trở nên điều hòa.
Đó là bước đầu diễn tả bằng 5 bức họa
: Chưa chăn, Mới chăn, Chịu phép, Quay đầu, Vâng
chịu. Đây là giai-đoạn của GIỚI, mở đường
cho ĐỊNH phát sanh trong giai-đọan kế. Trong giai-đoạn nầy, tâm đã
thuần phục, khỏi phải chăn giữ. Tâm đã Định, không gặp
gì chướng ngại. Tâm định là Ngã chấp hết, song vẫn còn Pháp chấp. Đó là bước tu chứng của hàng Tiểu-thừa (Thanh-văn và Duyên giác) diễn đạt bằng hai bức họa 'Không ngại và Tha-hồ '. Cần đi thêm bước nữa, khai-thác Huệ giác đến chỗ TÂM VÔ TÂM. Đến đây mới phá được Pháp chấp : pháp cũng không mà ngã cũng không, trâu cũng mất mà người cũng mất, cảnh cũng quên mà tâm cũng quên. Trước hết trâu mất còn người. Rồi người cũng mất luôn. Đó là cảnh giới của Bồ-tát, diễn-tả bằng hai bức họa 'Cùng quên và Soi riêng '.
Từ đó, đi thêm bước nữa vào cảnh giới Như-Lai, không
nói được nên lời, mà chỉ có thể hình dung bằng một vòng
tròn: Viên-giác. Đó là ý-nghĩa của bức tranh chót (Dứt cả
hai) khép lại quá-trình tu chứng theo Tiệm-Giáo, đi từ Giới
đến Định và Huệ, từ Thinh-văn, Duyên-giác đến Bồ-tát,
Phật, từ hữu tâm đến tâm và vô tâm, từ chỗ tất cả đều
có đến chân pháp đều không... Đó là vô-dư Niết bàn. B.-
HÌNH THỨC VÀ Ý NGHĨA
Tranh số 1 : Chưa chăn (Vị-mục) Mục-đồng
thấy trâu đang ngổng cổ sải chân chạỵ. Chú ve-vãn, bẻ
cỏ non nhử, nhưng trâu không hề để
ý. Trâu tính còn ngông cuồng,
đầu sừng thì ngang ngạnh, nó chạy càng chạy bướng,
vừa chạy vừa kêu rống om sòm, nó lội qua
suối, băng qua non, bất kể núi cao suối sâu, càng
chạy nó càng xa chủ xa
chuồng, đi bừa vào lúa mạ người. GIẢNG:
Chúng ta ai cũng có sẵn tánh-giác (Chân tâm, Phật tánh) nhưng
vì bị sự mê-hoặc của tham, sân, si ... nên trở thành vọng
tâm. Vọng tâm chạy theo sự
cám dỗ của tiền tài, sắc đẹp, danh lợi, ăn ngon,ngủ kỹ
mãi để cam chịu trải qua vô số kiếp luân-hồi. Đến một
lúc nào đó, chợt tỉnh muốn trở về thì mù mịt không
biết lối đi, và khi ra đi rồi thì cố hương ví như hang động,
bây giờ cửa hang bị mây đen che khuất, tìm lại rất khó
thấy. Kinh dạy do Vô-minh mới có Hành, vì ra khỏi hang vô-minh
thì hành đẩy đi, càng đi càng tạo nghiệp, càng tạo
nghiệp thì quanh-quẩn mãi trong luân-hồi, giống như mỗi bước
chân của trâu đi dẫm đạp lên lúa mạ của người, phạm
nhiều lầm lỗi. Đó là giai-đoạn người tu chưa biết gìn
giữ kềm chế tâm, để tâm buông lung chạy theo
nghiệp, bị nghiệp dẫn đi
luân-hồi trong lục đạo xa cách tánh giác. Tranh
số 2: Mới chăn (Sơ-điều)
Tuy mới chăn mà chú mục- đồng xỏ mũi được trâu, nếu một phen trâu nghênh ngang chạy càng chạy bướng, thì chú đánh cho nó thật đau. Từ xưa đến nay tánh nó vốn hạ-liệt, khó điều-phục. Chú mục đồng ra sức lôi cổ nó, nhưng nó cũng chống cự ghì kéo chú. Vì chú mục-đồng yếu hơn trâu, nên chú đứng sải chân kéo trâu mà trâu cứ ngổng cổ chạy đi, chỉ ngoẹo chút đầu lại thôi. GIẢNG:
Người mới tu chọn một pháp tu để điều-phục kềm chế tâm.
Thỉnh-thoảng tâm thanh-tịnh được phút chốc, song vọng
niệm vẫn dấy khởi,
hết duyên cảnh nầy đến duyên cảnh nọ, cứ sống theo thói
quen của tình-thức rất khó điều-phục, nên phải gan dạ
cắt đứt các duyên liên hệ bên ngoài, chăm chăm nương theo
phép tu không cho lơi lỏng.
Nói cho dễ hiểu, ví dụ khi mắt ta vừa tiếp-xúc vào
vật gì, biết đẹp hoặc xấu; tai nghe âm-thanh biết hay dở,
lời khen, tiếng chê... và các giác quan khác cũng vậy, đừng
để cho sự phân tách chổi dậy khiến chúng ta sanh ra ham mê,
ghét bỏ, vui, buồn, giận... Hãy tìm cách chận đứng chỗ phân-tách,
chỗ nguyên nhân sanh ra thích, ghét, vui, buồn... đấy là nương
theo phép TU. Tranh
số 3 : Chịu phép ( Thọ chế)
Trâu bắt đầu tuân phục theo người, không còn chạy ngược chạy xuôi nữa. Trâu đã trắng tới đầu. Chú mục đồng cầm dây mũi dẫn trâu lội qua suối, xuyên qua mây, mỗi bước mỗi bước trâu đều đi theo chú, chú đi đâu trâu đi theo đó. Tay chú vẫn cầm roi và nắm chặt dây vàm, không phút giây lơi lỏng. Chú mục đồng trọn ngày lo chăn trâu quên cả mệt nhọc. GIẢNG:
Người tu sau một thời gian cố gắng nỗ-lực tu-tập, tâm không
còn điên-đảo rong ruổi nữa. Vọng-niệm vừa dấy lên
liền thấy, vọng niệm tự lặng, thường xuyên tỉnh giác không
dám lơi lỏng. Song, vọng niệm vẫn cứ khởi hoài, tuy nhiên
mỗi lần vọng niệm dấy khởi liền thấy, vọng niệm tự
lặng không phải nhọc lòng rầy la như trước nữa.
Tranh
số 4 : Quay đầu ( Hồi thủ)
Đã lâu ngày chú mục đồng ra sức chăn giữ, giờ đây trâu mới chịu quay đầu. Tâm điên cuồng sức ngang ngạnh của nó bây giờ đã được điều-phục dần dần. Tuy vậy, chú mục-đồng vẫn chưa tin nó đã thuần nên vẫn còn cột dây mũi vào cây để chăn giữ, chưa cho nó đi tự do. GIẢNG
: Nhờ công-phu tu-tập lâu ngày, nên tâm tạm thuần, vừa
khởi niệm liền thấy thì vọng niệm tự lặng mất, không
phải nhọc nhằn kềm giữ hay quở nạt, chỉ cần thấy
vọng niệm là vọng niệm tự lặng mất. Đó là công phu tu
đã được sâu nên sức cuồng loạn của tâm đã tạm dừng.
Nhưng vọng niệm còn dấy còn khởi, nên phải thường xuyên
tỉnh-giác không lơi lỏng. Tu tới đây bớt nhọc nhằn,
dụng công tu tập được nhẹ nhàng.
Tranh
số 5 : Vâng chịu ( Thuần-phục)
Bên bờ suối xưa, dưới bóng cây liễu xanh, chú mục đồng đứng chơi, tay chú chỉ cầm roi mà không giữ vàm. Bây giờ, trâu đã trắng hai phần ba. Đối với trâu, chú thả ra hay giữ lại không còn khó khăn nữa. Trời chiều, mây xanh, cỏ thơm, trâu theo chú mục đồng cùng trở về nhà. GIẢNG:
Tu tới đây, lúc cần suy nghĩ thì suy nghĩ, lúc không cho suy
nghĩ thì lặng lẽ, muốn ngồi thiền thì ngồi, muốn đi thì
đi, muốn dừng thì dừng, không khó khăn. Tu càng tiến thì tâm
càng nhẹ nhàng thảnh-thơi, cảnh vật chung quanh càng đẹp càng
nên thơ. Người khi mới tu, tâm cuồng loạn vì nhiều chấp nê
phiền não nên thấy cảnh vật u buồn, thấy người xấu, người
khó, ai cũng làm phiền mình. Nhưng nếu khéo điều phục một
thời gian, tâm thuần thục an vui, thấy ai cũng tốt, cũng dễ
thương, cảnh vật cũng tươi đẹp. Để thấy, tu là chuyển
nội tâm mình trở nên thanh tịnh tốt đẹp, chớ không phải
chuyển cảnh vật bên ngoài.
Tranh
số 6 : Không ngơi (Vô ngơi) Trâu đã trắng toàn thân, chỉ còn đen ở cái đuôi, nó thản nhiên nằm ngủ ở dưới đất trống, không còn dây mũi, không còn roi để câu thúc kềm chế. Dưới cội tùng xanh, chú mục đồng ngồi nghỉ chơi, thổi sáo hát một bản nhạc thanh bình vui thật là vui. GIẢNG:
Tu tới khi tâm an vui lặng lẽ khỏi phải dụng công kềm
chế, lúc đó thảnh-thơi nhàn hạ, thổi sáo hát ca trong hân
hoan.
Tranh số 7 : Tha-hồ
(Nhiệm vận) Bờ liễu xanh lặng lẽ, hồ xuân lặng sóng, nước trong nên phản chiếu ánh sáng, lại có khói mờ, cỏ thơm màu xanh thẩm đẹp như nhung. Chú mục-đồng tùy thời đói thì ăn, khát uống, rồi trên tấm đá chú ngủ một giấc say sưa. GIẢNG:
Tu tới gian đoạn tâm lặng lẽ mà sáng soi thì không còn
dụng công tu-tập nữa, nhìn thấy cảnh vật rất nên thơ đẹp
đẽ. Lúc bấy giờ tùy thời đói ăn khát uống, mệt ngủ,
không bận lòng với thế sự.
(Tu tới chỗ tâm lặng lẽ sáng soi thì đói ăn mệt
ngủ được, nếu tâm còn dong ruổi chạy nhảy lăng xăng
mà đói ăn mệt ngủ là buông lung,phóng túng, cần
phải răn phạt).
Tranh
số 8 : Cùng quên ( Tương vong) Con trâu trắng thường nằm trong mây trắng, trâu không để ý tới người, người cũng không nghĩ tới trâu. Trăng sáng soi qua mây trắng, bóng mây hiện vẫn là màu trắng. Trăng trong mây trắng tự nó qua đông hay qua tây không ngăn ngại. GIẢNG:
Tâm thanh-tịnh thì cảnh vật cũng thanh-tịnh, tu đến chỗ vô
tâm thì tự tại vô ngại. Đây mượn hình ảnh trăng trong mây
trắng để nói lên trạng thái vô tâm, tự tại vô ngại. Tranh
số 9 : Soi riêng ( Độc chiếu)
Trâu không còn, chú mục-đồng rất là nhàn hạ. Bây giờ bầu trời xanh chỉ còn có một mảnh mây nhỏ vắt ngang qua. Chú mục-đồng vỗ tay hát ca dưới bầu trời trong trăng sáng. Trên đường về nhà vẫn còn có một lớp cổng chắn ngang, chưa qua suốt. GIẢNG:
Tới đây là chỗ bất nhị, bởi không còn hai nên không còn
tâm, mà không còn tâm (trâu) thì tu-tập cũng không thành
tu-tập. Chỉ có người vui ca hát dưới bầu trời trong trăng
sáng. Tuy tới chỗ không hai, không còn dụng công tu-tập, hành-giả
đã thảnh-thơi rồi, nhưng chưa phải là rồi mà còn phải
qua một lớp cổng nữa mới xong.
Tranh
số 10 : Dứt cả hai ( Song dẫn) Người không còn, trâu cũng mất, dấu cũng không, chỉ còn ánh trăng sáng bàng-bạc cả bầu trời không có một hình bóng của vạn vật. Muốn hỏi đại ý của Phật Pháp là gì ? - Chỉ là hoa đồng cỏ nội tự nó xanh tươi, chẳng ai phí công trồng trọt, mọi vật đều sẵn vậy. GIẢNG:
Lý đạo đến chỗ Ngã Pháp đều vong thì hoàn toàn thanh-tịnh
sáng suốt viên mãn. Vòng tròn trắng tượng trưng cho tánh viên
giác tròn sáng. Các Thiền-sư gởi
thơ cho nhau muốn nói chỗ giác
ngộ viên-mãn chỉ vẽ một vòng tròn, không viết thêm
một chữ, không nói thêm một
lời. IV.
TRANH THIỀN-TÔNG
A . NỘI DUNG Cũng như ở hầu hết các pháp môn khác, vấn đề đặt ra cho Thiền vẫn là sự 'hàng phục kỳ tâm'. Tâm của Đại-thừa là ngã tướng. Đến Thiền thì cái ngã được thu hẹp thành cái niệm. 'Tôi tư-duy, tức có tôi'. Niệm là ý nghĩ, là tư-duy, được coi là phần tử cốt cán của cái 'tôi '. Nên Thiền dạy vô niệm, dạy cắt đứt suy tư, bất cứ suy tư gì : Vô niệm : niệm tức chánh Hữu niệm : niệm thành tà (Pháp Bảo Đàn kinh) Do đó Thiền kỵ lý luận, không giảng dạy, thường chỉ ngậm miệng quên lời, thảng hoặc có nói thì thường chỉ nói bằng lối phi lý-luận. Trong quá-trình phân phái của đạo Phật, Thiền quả là nhát búa cuối cùng đập vào óc thông-minh ưa lý-luận mà loài người chúng ta hằng tự phụ.
Trong hệ thống các pháp môn, Thiền là đốn giáo,
chủ-trương thấy được tánh là tức-khắc thành Phật, tại
đây và ngay ở phút giây nầy. Tuy nhiên, pháp môn nào cũng có
tu và có chứng. Chứng là một biến cố đột ngột, ngoài
thời gian. Đó là một sự thật quá ư thật, như tiểu-sử
nhiều thiền tổ đã chứng rỏ. Nhưng cũng vẫn những tiểu
sử ấy còn cho ta thấy trước khi được đốn ngộ, hầu
hết các tổ, và trước hết là Phật-tổ, đều trải qua
nhiều đoạn đường dọ dẫm rất gay go. Như vậy là sự
tu-tập vẫn phải đặt trong chiều thời gian mà đi đến
lần hồi vậy, hay nói một cách khác: tu thì tiệm mà chứng
thì đốn. B. HÌNH
THỨC TRANH VÀ Ý NGHĨA
Tranh
số 1 : Tìm trâu (Tầm ngưu) Chú mục-đồng lòng nao nao bồn chồn vạch cỏ bụi để tìm
kiếm trâu. Chú
lội qua suối sâu, chú trèo lên núi cao, chú vượt đường dài
xa thẳm. Sức chú đã
kiệt, tinh thần chú đã mỏi mệt, nhưng chú vẫn chẳng
biết trâu ở đâu mà tìm. Trời chiều, giữa cảnh rừng
rậm, chú chỉ nghe trên cành cây tiếng ve ngâm. GIẢNG:
Trong một phút giây khác thường nào đó, đặc biệt trong
cảnh thanh vắng, nhàn rỗi, tâm-trí nhẹ-nhàng, tự nhiên
niềm suy-tư của chúng ta đâm ra ngờ vực về bản-thể của
mình, về cảnh vật
quanh mình, muốn tìm cho ra chân-lý cuộc đời.
Người bắt đầu tìm hiểu qua sách vở, kinh-điển,
bắt đầu tu-tập. Người mới tu với tất cả ý-chí dũng mãnh
thiết tha, muốn tu cho thành tựu đạo quả, nên đến hết đạo-tràng
nầy, lại đến Pháp hội kia để
học hỏi tìm tòi. Càng đi tìm tòi, càng học hỏi thì càng
nhọc sức, vẫn không nắm bắt được cái mà mình muốn
kiếm tìm. Nhìn lại, chỉ thấy sinh-họat cũ kỷ của ngày
tháng qua.
Tranh
số 2 : Thấy dấu ( Kiến tích) Bên bờ sông, trên bờ suối, dưới mé rừng dấu trâu rất nhiều nên chú mục đồng vạch cỏ cây lùm bụi để tìm trâu. Chú cho rằng trâu sẽ ở đâu đây. Dầu cho là núi sâu lại ở chỗ sâu thẳm, nhưng mà lổ mũi cao ngất trời giấu đâu được nữa. Tức là tìm kiếm mà thấy dấu rồi nhất định sẽ thấy trâu không nghi ngờ. GIẢNG:
Lời Phật dạy trong Kinh, lời Tổ dạy trong Luận, trong Ngữ
lục, là mỗi chúng sanh đều có sẵn Tánh-giác. Hành giả tin
Phật, Tổ không nói dối nên gắng sức tu tập theo lời
Phật Tổ dạy, không sớm thì muộn chắc chắn sẽ thành
Phật. Tranh
số 3 : Thấy trâu ( Kiến ngưu)
Trên cành cây, chim hoàng oanh hót từng tiếng, từng tiếng. Trời ấm, gió mát, trên bờ có rặng liễu xanh. Chỉ ở đây, không có chỗ xoay lại được nữa. Rõ ràng trâu hiện đầu sừng ra rồi mà vẽ không được. GIẢNG:
Ngay khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi
nếm vị, thân xúc chạm, không khởi thức phân biệt đẹp
xấu, hay dở, thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe ... ngay khi đó Tánh
thấy,Tánh nghe ... đang hiện hữu rõ ràng. Thể Tánh chân
thật hiển hiện rõ ràng mà không diễn tả được. Tranh
số 4 : Được trâu ( Đắc ngưu)
Chú mục-đồng tận dụng hết sức lực mới bắt được trâu, xỏ mũi cột vàm. Tuy bắt được nó rồi, nhưng tâm nó cang cường, sức nó mạnh mẽ nên khó chế ngự điều phục, lại có khi nó vừa đến cao nguyên lại chui vào mây khói ở sâu trong đó. GIẢNG:
Hành-giả đã tận lực huân tu mới nhận được thể tánh chân
thật của chính mình. Tuy đã nhận ra, nhưng nó không thường
hiển lộ, vì tập khí lâu đời nên mỗi khi Căn tiếp xúc
với Trần liền phân biệt tốt xấu, hay dở chớ không nhớ
mình có 'CÁI BIẾT KHÔNG PHÂN BIỆT', và cứ thế chạy theo
trần cảnh khởi vô số vọng niệm khó mà điều phục.
Cao-nguyên là dụ cho tâm thể chơn thật đang hiển hiện, mây
khói là dụ cho thức tình vọng tưởng. Có khi tâm thể chơn
thật mới vừa hiện ra chưa được ba phút, nó lại ẩn trong
đám mây mờ vọng tưởng đang dấy khởi. Bị vọng tưởng
che phủ, nó không hiện nữa, giống như trâu lên cao nguyên đứng
thì dễ
thấy, nếu nó lủi vô đám sương mù thì mất hút. Tâm
chúng ta cũng vậy, mới
vừa an lặng rõ ràng hiện tại, hiện trong phút chốc lại
bị che mất bởi vọng tưởng
nữa. Hình ảnh nầy diễn tả thật cụ-thể sự tu-tập rất
khó khăn ở giai-đoạn đầu.
Tranh
số 5 : Chăn trâu ( Mục ngưu) Roi và dây chú mục-đồng luôn luôn nắm trong tay không bao giờ rời. Chú sợ trâu nhảy vọt vào lùm bụi, nên phải luôn luôn chăn thật kỹ. Bao giờ trâu được thuần rồi, thì chừng đó mới buông dây mũi không kềm chế nữa, trâu tự nó đi theo chú. GIẢNG:
Tuy đã nhận ra thể tánh chân thật rồi nhưng vọng niệm
vẫn còn dấy khởi, nên hành giả phải luôn luôn phản
tỉnh, niệm dấy liền biết không theo, và thường xuyên
tỉnh giác. Như thế lâu ngày tâm sẽ thuần, chừng đó muốn
khởi niệm thì niệm khởi, không muốn khởi niệm
thì tâm lặng lẽ thanh-tịnh.
Tranh
số 6 : Cỡi trâu về nhà ( Kỵ ngưu quy gia) Chú mục-đồng cỡi trâu đi bên vệ đường để trở về quê nhà. Tiễn biệt trời chiều, miệng chú thổi sáo vi-vu, tay chú gõ nhịp, chú ca câu ca tuyệt vời. Bây giờ, trâu đã trở thành bạn tri-âm của chú. Chú đâu nó đó, chú không còn rầy la đánh đập nó nữa. GIẢNG:
Người tu điều-phục tâm đến chỗ thị phi gác bỏ ngoài
tai, được mất không bận lòng, sống trọn ngày chỉ biết cười
vui, tự mình cũng không nhọc nhằn dụng công, người hướng
dẫn tu cũng vui cười, không còn bận lòng nhắc nhở hoặc la
rầy.
Tranh
số 7 : Quên trâu còn người (
Vong ngưu tồn nhân) Chú mục đồng đã cỡi trâu về đến nhà rồi, chú không còn bận lòng nghĩ đến trâu để chăn nữa, nên nói trâu đã không, người cũng rảnh. Vì còn trâu là còn chăn giữ, nay trâu không còn, chú được rảnh rang nhàn rỗi nên sáng ngày, mặt trời lên ba sào mà chú vẫn còn ngủ say. Khi ấy, dụng cụ chăn trâu như roi dây không cần, quăng hết vô nhà cỏ. GIẢNG
: Cũng vậy, khi tâm vọng không còn dấy khởi nữa, hoàn toàn
lặng lẽ, tức là tâm đã trở lại chỗ ban sơ thanh tịnh sáng
suốt thì hành giả không còn dụng công tu-tập nữa, đối
với mọi vật không bận lòng, tùy thời đói ăn mệt ngủ.
Tranh
số 8 : Người trâu đều quên ( Nhân ngưu câu vong) Trâu đã không, nên roi gậy cũng bỏ, người chăn cũng không nốt. Trời xanh thênh-thang không có một gợn mây, thì lúc đó trông thấy cái gì ? Cho nên tin tức không thông được. Lò lửa đỏ hừng đâu còn một mảnh tuyết. Chừng đó mới hiệp với con đường Phật, Tổ đi. GIẢNG:
Người khi đã vượt qua kiến chấp đối đãi hai bên thì không
còn ngã và pháp. Ngã pháp không còn thì trí-huệ viên-mãn, nên
tượng trưng bằng vòng tròn viên-giác, chỗ mà Lục-tổ nói
'Bản lai vô nhất vật' đó vậy.
Tranh
số 9 : Trở về cội nguồn ( Phản bổn hoàn nguyên) Phản bổn hoàn nguyên đã phí công Đâu bằng thẳng đó tợ mù câm Trong am chẳng thấy ngoài vật khác Nước tự mênh mông hoa tự hồng GIẢNG:
Cội nguồn là thể chân thật, nó vốn sẵn có như vậy, không
cần phí công để tìm, không cần phí sức để trở lại.
Chỉ cần mắt thấy sắc không phân biệt đẹp xấu, tai nghe
tiếng không phân biệt hay dở. Thấy nghe mà không phân biệt
tốt xấu hay dở, cũng giống như mù như điếc nên nói mù câm.
Trong am là chỉ cho tâm thể thênh thang trùm khắp không có
một vật gì ngoài nó. Chừng
đó mới thấy tự-tại, thấy nước mênh mông, thấy hoa tự
nở hồng nở tía mà không bận tâm không vương mắc, đó là
phản bổn hoàn nguyên, gọi là vào cảnh giới Phật.
Tranh
số 10 : Thõng tay vào chợ (Nhập triền thùy thủ) Thiền-sư mặc áo bày ngực, chân không giày dép đi vào chợ để làm những việc rất tầm thường như người đời. Miệng cười hỉ hạ tới mép tai, không cần gìn giữ giới hạnh mẫu mực của người tu, không thuyết giảng giáo lý cao-siêu mầu-nhiệm, chỉ làm một con người rất tầm thường để dạy cho những người bán cá bán thịt ở ngoài chợ, ở quán rượu, là những con người không có chút đạo-đức, khiến cho họ có chút đạo-đức biết tu hành. Đó là trọng trách giáo hóa của người tu đã đến chỗ viên-mãn. GIẢNG:
Chỗ nầy là chỗ thiết yếu, hành giả cần phải hiểu cho rõ,
người tu sau khi vào cảnh giới Phật tức là đã triệt
ngộ, rồi mới vào cảnh giới ma để xả thân vào đời, làm
lợi ích cho đời. Nếu chưa ngộ, chưa vào cảnh giới Phật
mà vào cảnh giới ma, tự mình đã không tiến tu mà cũng không
làm lợi ích cho người được, thì chắc chắn sớm muộn gì
cũng thành ma. Đừng nghe loáng-thoáng, hiểu lờ-mờ rằng
mỗi người ai cũng có Phật-tánh, cho rằng mình cũng có ông
Phật rồi tùy ý phóng đãng, ăn nhậu, chơi bời làm nhiều
chuyện tội-lỗi, thì sẽ rơi vào địa-ngục như tên bắn. Vì
vậy, học là phải hiểu và tu cho chính chắn, cho thấu suốt
để tu tập không sai lầm, và tu đến nơi
đến chốn. V.-
KẾT LUẬN
'Thập Mục Ngưu Đồ' theo tinh thần Đại-thừa, vẽ lại quá
trình công phu của người học đạo, trước hết tự thắng
bản năng mình, sau tự trị, cuối cùng chỉ để tự-tại thôi.
Cái vòng tròn tranh thứ 10
Dứt cả hai (Song dẫn) tượng trưng cho sự đoạn-tuyệt
tất cả những nếp suy tư, cắt đứt hẳn một trạng thái
ý thức và hiện hữu mà thường chúng ta không được biết. Và yếu-lý chung của 10 bức tranh Thiền Tông, được diễn tả qua bài kệ được dịch nghĩa :
Tìm trâu cần phăng dấu,
Học đạo cốt vô tâm
Dấu đâu thì trâu đó Vô tâm đạo dễ tầm . Và sau đây bảng đối chiếu để chúng thấy sự sai khác giữa hai loại tranh, về hình-thức cũng như nội dung : Tranh Đại-Thừa Tranh Thiền Tông
1. Chưa chăn
1.- Tìm trâu
2.- Mới chăn
2.- Thấy dấu
3.- Chịu phép
3.- Thấy trâu
4.- Quay đầu
4.- Được
trâu
5.- Vâng chịu
5.- Chăn trâu
6.- Không ngại
6.- Cỡi trâu về nhà
7.- Tha hồ
7.- Quên trâu còn người
8.- Cùng quên
8.- Người trâu đều quên
9.- Soi riêng
9.- Trở về cội nguồn 10.-Dứt cả hai 10.- Thõng tay vào chợ Đối với Lam viên sanh trưởng tại Âu-châu nầy, nếu hình ảnh con trâu có phần xa lạ, anh chị có thể đổi trâu thành hình ngựa, bò, chó, mèo ... cho được gần gũi thân thương và nếu chó mèo không cưỡi được, lại cứ đổi nữa thành ẫm, ôm vào lòng cũng chẳng sao, miễn nhận được Lý (Tâm) là được rồi, tất cả đều là phương tiện. Chí-Pháp Uy-viên Nghiên-Huấn Ban Hướng dẫn Âu-Châu Hòa-Lan, 6/4/ 1997 |
|||||||||||||||||||||
