|
Trại
Huấn Luyện |
| Chương trình Trại Huấn Luyện HUYỀN-TRANG.
I. Tổng quát 4 bài III Phật giáo 4 bài IV Điều động 5 bài
***
|
Phần
III - Phật giáo:
4 bài Bài 4 HIỆN TÌNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG NƯỚC TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, dù có nhiều sự răn đe của nhà nước cộng sản Việt Nam (CSVN), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) vẫn kiên cường hoạt động, lãnh đạo Phật giáo đồ trên toàn miền Nam từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau. Đã nhiều lần khuyến dụ, dọa nạt vẫn không có hiệu quả, CSVN bắt đầu đàn áp thẳng tay qua nhiều cuộc bắt bớ Tăng Ni diễn ra trên toàn quốc. Rất nhiều hàng giáo phẩm cao cấp lãnh đạo giáo hội bị chụp mũ, tù đày vô thời hạn nhằm muốn đập chết "đầu rắn" để khai tử giáo hội truyền thống dân lập này. Trước tình hình đó, năm 1977, Đại hội kỳ 7 của GHPVNTN được tổ chức tại chùa Ấn Quang - Sài gòn, củng cố lại nhân sự cho giáo hội vào những chức vụ quan trọng trong Hội đồng lưỡng viện: Viện trưởng Viện Hóa Đạo, viện Tăng Thống, cùng các chức vụ trong các Tổng vụ như: Hoằng Pháp, Văn Hóa, Giáo dục, Tăng sự, Cư sĩ, Thanh niên, Tài chánh, Kiến thiết, Xã hội, .v.v... và nhiều vụ trực thuộc tổng vụ do Viện trưởng viện Hóa Đạo lãnh đạo và điều hành mọi Phật sự với hệ thống tổ chức cấu trúc theo từng Miền, Tỉnh, Thị, Quận, Huyện, Phường, Xã, Ấp. Biết
không thể áp đặt GHPGVNTN dưới sự lãnh đạo của mình qua
bàn tay Mặt trận Tổ quốc và Ban Tôn giáo, CSVN chẳng ngần
ngại thủ tiêu quý Thầy qua cái chết của Thượng Tọa Thích
Thiện Minh và rồi đến cái chết đột ngột của Hòa Thượng
Viện trưởng viện Hoá Đạo - HT Thích Trí Thủ, cùng nhiều
bản án tử hình dành cho quý Thượng Tọa, Đại đức, Tăng
Ni,.v.v.... Mặt khác, ngày 6 và 7 tháng 11 năm 1981, CSVN nâng đỡ những thành phần xu thời, cầu an, thân chính phủ giàn dựng Đại hội Phật giáo tại chùa Quán Sứ - Hà Nội, thành lập một giáo hội mới : giáo hội quốc doanh với danh xưng là Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN, chỉ thiếu 2 chữ Thống Nhất để phân biệt với giáo hội truyền thống dân lập). Khác với cơ cấu tổ chức của GHPGVNTN đã trình bày ở trên, Giáo hội này nằm dưới sự chỉ đạo của Ban Tôn giáo thuộc Mặt trận Tổ quốc, GHPGVN có ban lãnh đạo cao nhất là Ban Thường trực Hội đồng Trị sự. Trong Ban Thường trực (BTT) này có các chức vụ là Chủ tịch BTT, Phó chủ tịch, Tổng Thư ký, Phó TTK, các Ủy viên Thư ký, cùng với các Ban: Hướng Dẫn Nam Nữ Phật tử, Hoằng Pháp, Nghi lễ, Văn hóa, Kinh tế - Tài chánh, Từ thiện - Xã hội, Tăng sự và Kiểm soát. Mỗi ban có một Trưởng ban và một Phó trưởng ban nếu cần. Ví dụ Ban Hướng Dẫn Nam Nữ Phật tử trong nhiệm kỳ 3 (1992-1997) chỉ có Trưởng ban Hướng Dẫn Nam Nữ Phật tử là Thượng tọa Thích Thiện Duyên mà thôi chứ không có ai khác. Trong Ban Hướng Dẫn Nam Nữ Phật tử (BHDNNPT) lại không có quy chế, tổ chức và điều hành rõ rệt. Mãi đến cuối năm 1998 thì nhà nước chỉ thị cho giáo hội lấy toàn bộ cơ cấu của Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPT VN lắp vào và đặt dưới sự chỉ đạo của Trưởng Ban HDNNPT. Chính vì thế BAN HDTƯ GĐPT VN mới này không thể dùng chữ "BAN" được nữa mà phải gọi là PHÂN BAN, và để phù hợp với danh xưng của hệ thống hàng dọc, người ta phải bỏ các chữ "Trung Ương GĐPT VN" mà thay vào đó là "Hướng Dẫn Nam Nữ Phật tử". Các đơn vị GĐPT sinh hoạt dưới các chùa thuộc GHPGVN đều thuộc về Phân Ban HDNNPT. Vô hình chung tổ chức GĐPT VN trong nước bị tách 2 : một thuộc về BHD TƯ GĐPT VN (GHPGVNTN), một thuộc về Phân BHDNNPT (GHPGVN). Nhưng Phân BHDNNPT này không được thành hình ở cấp trung ương ngang hàng với cấp trung ương của GĐPT VN, mà lại thành hình ở cấp Ban Hướng Dẫn Miền. Và ở cấp Miền, do sự linh động của một số các Huynh trưởng, Phân Ban Hướng Dẫn cấp Miền không dùng chữ "Nam Nữ Phật tử" mà vẫn duy trì chữ GĐPT. Do đó ở Việt Nam chỉ có Phân Ban Hướng Dẫn GĐPT Thừa Thiên - Huế, Phân BHD GĐPT Thành phố Hồ Chí Minh, .v.v.... Các Phân BHD này chịu sự chỉ đạo của Thành hội Phật giáo hay Tỉnh hội Phật giáo (!!!!) Từ đó, trong nước có hai giáo hội, CSVN chỉ thừa nhận giáo hội do chúng lập ra và kiểm soát mọi hoạt động của giáo hội này. Các tu viện, tự viện, trường học, mọi cơ sở, tài sản của GHPGVNTN bị tịch thu, cưỡng đoạt, giáo hội bù nhìn này không dám đòi lại. Và với quy chế "ăn theo", các đơn vị GĐPT thuộc phe Phân Ban cũng được hoạt động công khai dưới sự giám sát của các cán bộ đoàn của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc các Đảng viên trẻ được gài vào các đơn vị để hướng dẫn giáo dục các đơn vị. Về cơ cấu hạ tầng, GHPGVN sao lại hệ thống tổ chức hạ tầng như GHPGVNTN với cấu trúc Tỉnh - Thị, Quận - Huyện, Fường - Xã, mỗi tỉnh có Tỉnh hội, thành phố có Thành hội, còn mỗi Quận hay Huyện thì có Đại diện Quận hay Huyện, đối với Fường hay Xã nếu Fường Xã đó có số lượng Phật tử đông thì sẽ có Đại diện. Tưởng GHPGVN ra đời thì tự khắc sẽ xóa dần hình ảnh của GHPGVNTN, nhưng trái lại, chính nhờ sự nhu nhược, thiếu dũng cảm, cam tâm làm tay sai của GHPGVN càng làm cho niềm tin phục hoạt GHPGVNTN của Tăng tín đồ Phật tử ngày được un đúc ngấm ngầm hơn. Vô hình chung trong nước hiện hữu cùng lúc 2 giáo hội, một nổi, một chìm; một được nâng đỡ, một bị trù dập. Giáo hội được nâng đỡ thì không đạt được lòng tin của đại đa số Phật tử. Giáo hội bị trù dập thì càng được khối quần chúng Phật tử trong nước thương kính chư tôn đức và càng thể hiện tính vô úy của người Phật tử. Cũng nói thêm tình hình thế giới có nhiều điều bất lợi cho CSVN, khối Phật tử VN tại hải ngoại ủng hộ tuyệt đối tinh thần phục hoạt của GHPGVNTN lại càng khích lệ khối Phật tử trong nước vững tin hơn vào Giáo hội truyền thống này, điều đó buộc nhà nước CS đã phải giảm án tử hình cho một số Thầy. Và đã đến lúc chín mùi : Cuối năm 1991, Hòa thượng Xử Lý viện Tăng Thống, HT Thích Đôn Hậu, trước khi xả bỏ báo thân, những ngày tháng cuối Ngài đã gởi tâm thư cho chư tôn đức trong và ngoài nước kêu gọi phục hoạt GHPGVNTN. Lời kêu gọi phát đi, hàng triệu lời đáp ứng mạnh mẽ. Tại hải ngoại các chi phần GHPGVNTN tại các châu, các quốc gia quay về với Giáo hội chính thống. Tháng 4 năm 1992, sau tang lễ Đại lão HT Thích Đôn Hậu, thực thi di chúc của Ngài, Hòa thượng Thích Huyền Quang nhân danh Quyền Viện trưởng viện Hóa Đạo tuyên bố phục hồi sinh hoạt GHPGVNTN. Trong nước nhiều tự viện, Tăng, Ni lên tiếng ủng hộ và công khai bắt tay vào việc sinh hoạt với GHPGVNTN bằng cách ly khai với hệ thống GHPGVN. Dĩ nhiên là nhà nước CS không để yên, lại những màn bắt bớ, đàn áp thẳng tay diễn ra. Nhưng nhờ vào thành quả khoa học kỹ thuật trên lãnh vực thông tin, những vi phạm trầm trọng về nhân quyền tố giác CSVN được nhanh chóng truyền bá, quốc tế buộc nhà nước CS phải tôn trọng những công ước về nhân quyền mà nhà nước VN đã cam kết thực thi. Sau cùng cuối năm 1992, nhà nước CSVN phải trả tự do cho tất cả các chư tôn đức giáo phẩm trong GHPGVNTN cùng một số các vị lãnh đạo các tôn giáo khác và các chiến sĩ nhân quyền. Trong suốt 2 năm (1992-1994), dù luôn bị gây khó khăn, chèn ép, thả đợt nọ, bắt đợt kia, GHPGVNTN trong tình trạng dở sống dở chết nhưng vẫn cố gắng vươn lên, củng cố lại guồng máy giáo hội và đã đạt được những thành quả như sau : - Thiết lập được Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo tại Hoa Kỳ để điều hành Phật sự của Giáo hội tại hải ngoại (cuối năm 1993). - Củng cố lại thành phần nhân sự trong hội đồng lưỡng viện và các tổng vụ (1994). Và cứ như thế đã hơn 10 năm qua, từ 1994 cho đến nay, GHPGVNTN càng kiên cường phục hoạt bao nhiêu thì nhà nước CS lại càng tăng cường sức ép trấn áp bấy nhiêu. Có đôi lúc nhà nước mượn tay một số Thầy trong Giáo hội quốc doanh để nhằm lôi kéo vào GHPGVN, hoặc có đôi lúc tiếp xúc song phương với Hòa thượng Viện trưởng tại Hà Nội nhằm sáp nhập GHPGVNTN vào với GHPGVN để dễ dàng điều khiển bởi đảng CSVN qua tay Mặt trận Tổ quốc, nhưng đó là điều mà đại đa số tín đồ Phật tử trong và ngoài nước cùng chư tôn đức lãnh đạo GHPGVNTN nhất định không thể nhượng bộ. Từ Khoa |
|
