|
Trại
Huấn Luyện |
| Chương trình Trại Huấn Luyện HUYỀN-TRANG.
I. Tổng quát 4 bài III Phật giáo 4 bài IV Điều động 5 bài
***
|
Phần
III - Phật giáo:
4 bài Bài 3 CỐ THƯỢNG TỌA VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO GHPGVNTN THÍCH THIỆN HOA
THÂN THẾ VÀ TIỂU SỬHòa Thượng Thích Thiện Hoa tên thật là Trần Thiện Hoa, quy y từ lúc nhỏ nên song thân lấy pháp danh làm tục danh. Ngài sinh ngày 07 tháng Tám năm Mậu Ngọ (1918). Là con thứ trong một gia đình Phật tử thuần thành ở cù lao Tân Quy, xã An Phú Tân, quận Cầu Kè, tỉnh Vĩnh Bình. Thân phụ là Trần văn Thê, Pháp danh Thiện Huệ, hương cả của làng. Thân mẫu là Nguyễn thị Sáu, pháp danh là Diệu Tịnh. Cha Ngài mất sớm, năm ngài lên 6 tuổi, mẹ mất lúc 90 tuổi vào năm 1967. Toàn thể gia đình Ngài quy y với Tổ Chí Thiền, chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh của ngài do Tổ cho. Sau khi thân sinh mất, ngài theo mẹ đi chùa Phước Hậu ở Trà Ôn làm lễ cầu siêu. Tại đó, Ngài cương quyết xin xuất gia ở lại chùa. Sau đó ngài lên chùa Long Phước quận Cái Vồng theo học với Tổ Khánh Anh. Trong gia đình Ngài còn có người anh thứ 5, chị thứ 7 và anh thứ 8 cùng xuất gia cả. Ngài cầu Pháp với Tổ Khánh Anh được hiệu là Hoàn Tuyên, Tổ đi giảng nơi nào Ngài đều được đi theo. Năm 1931; Tổ đến Chùa Long An ở Trà Ôn và khai giáo tại đây,ngài cũng nhập chúng tu học tại chùa này. Đầu mùa hạ 1935, lúc Ngài 17 tổi, Ngài theo học Phật Học Đường Lưỡng Xuyên, Trà Vinh và thọ giới Sa Di. Ba năm sau Ngài đi Huế tiếp tục chương trình tu học tại Phật Học Đường Tây Thiên trong 2 năm. Sau đó Ngài vào thọ học cùng Tổ Phước Huệ, chùa Thập Tháp tại Bình Định một năm rồi lại trở ra Huế nhập học Phật Học Đường Bảo Quốc. Năm 1945 lớp học vừa dứt thì chiến tranh tràn đến, ngài dẫn một số chúng Tăng vô Nam theo sự ủy thác của Hội An Nam Phật Học. Trở về miền Nam năm 1945, Ngài hợp tác cùng Ngài Trí Tịnh mở Phật Học Đường Phật Quang tại Rạch Bang Chang, Trà Ôn. Đây là khóa học đầu tiên cho tu sĩ miền Nam. Hiện nay trong số hơn 30 Tăng, Ni còn lại một số vị nổi tiếng như: Hòa Thượng Thanh Trí, Ni Sư Trí Định. Ngoài lớp giáo lý, Ngài còn mở các lớp học quốc ngữ mỗi buổi sáng để dạy cho các em trong làng. Dạy lớp Bình dân học vụ mỗi tối và mở Trạm y Tế để giúp cho đồng bào khi tật bệnh. Chính Ngài đã lập ra phương thức học vần bằng lối thơ lục bát mà cho đến nay nhiều người còn nhớ rõ. Đến năm 1952, Ngài được các Pháp lữ như ngài Thiện Hòa, lúc ấy là Giám Đốc Phật Học Đường Nam Việt, Hòa Thượng Thích Nhật Liên, Tổng Thư Ký Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và Hòa Thượng Thích Quang Minh, Hội Trưởng Hội Phật Học Nam Việt mời về Sài Gòn để chung lo Phật sự. Năm 1953, Hòa Thượng chính thức lên Sài Gòn để cùng quý Vị Lãnh Đạo Giáo Hội Miền Nam gánh vác trách nhiệm hoằng dương Chánh pháp. Ngài đảm nhiệm chức vụ Đốc Giáo Phật Học Đường Nam Việt, Trưởng Ban Hoằng Pháp và Trưởng ban Giáo Dục Giáo Hội Tăng Già Nam Việt. Năm 1957, ngài cùng Hòa Thượng Thích Thiện Hòa sáng lập ra Phật Học Ni Tự tức chùa Dược Sư ngày nay. Ngài còn mở lớp Như Lai Sứ Giả tại chùa Pháp Hội, hằng tuần Ngài còn chủ trương và tổ chức các buổi phát thanh Phật Giáo trên đài Sài Gòn. Hằng tuần vào tối thứ tư và thứ năm, Ngài mở lớp dạy giáo lý tại chùa Ấn Quang (Phật Học Đường Nam Việt) cho quý Phật tử cư sĩ. Đây là lớp học Phật Học Phổ Thông mà Ngài hằng ấp ủ hoài bảo thực hiện. Đến năm 1965 thì hoàn tất được 12 nấc thang Giáo lý. Năm 1956, ngài được mời giữ chức vụ Hoằng Pháp Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam và làm Chủ Nhiệm tạp chí Phật học lấy tên là Tạp chí Phật Giáo Việt Nam. Năm 1961, sau khi anh Trưởng Ban Hướng Dẫn GĐPT Việt Nam Võ Đình Cường bị bắt, Ngài đã đứng ra lãnh chức vụ Trưởng Ban Hướng Dẫn GĐPT Việt Nam. Năm 1963, trong cuộc vận động của Phật Giáo Việt Nam, Ngài được suy cử giữ phó Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái bảo Vệ Phật Giáo và sau đó bị Chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam cùng với hàng trăm Tăng, Ni, tín đồ Phật tử. Năm 1964, sau Pháp nạn, Ngài được suy cử chức Phó Viện Trưởng Đệ Nhất Viện Hóa Đạo GHPGVNTN . Đến năm 1967 được đề cử giữ chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Trụ Trì Việt Nam Quốc Tự. Tuy công việc đa đoan, Ngài vẫn luôn luôn giữ hạnh Pháp thí cho đến ngày viên tịch lúc 6 giờ 05 ngày 20 tháng 12 năm Nhâm Tý tức ngày 23.01.1973 hưởng thọ 55 tuổi đời, 26 tuổi hạ. SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ TRƯỚC TÁCSau khi tốt nghiệp Cao Đẳng Phật Học Báo Quốc ở Huế cho đến khi viên tịch, dù bận bịu công việc, dù sức khỏe suy yếu, kể cả trong lúc khó khăn nhất vì thời đại, không lúc nào Ngài ngơi nghỉ trong công cuộc giáo dục Tăng, Ni, Phật tử. Từ lớp Giáo Lý ở chùa Phật Quang đến Phật Học Đường Nam Việt tại Chùa Ấn Quang, đến Phật Học Dược Sư và nhiều chùa khác nữa, Ngài làm công việc một cách cần cù không ngơi nghỉ, không mệt mỏi. Ngài còn lưu ý đến việc truyền bá Phật Pháp bằng các phương tiện truyền thông đại chúng như chương trình Phát Thanh Phật Giáo Việt Nam mà Ngài chủ trương và tổ chức. Tuy vậy Ngài vẫn không ngừng dịch thuật và truớc tác. Các tác phẩm của Ngài phần nhiều do tụ chúng mà thành và Ngài rất lưu tâm đến trình độ Giáo Lý của đại chúng, nên Ngài viết ra một cách đơn giản nhưng rất đầy đủ, súc tích và dễ hiểu. Chúng ta có thể kể đến các tác phẩm của Ngài như: 1. Phật Học Phổ Thông (12 khóa) 2. Duy Thức Học 3. Bản Đồ Tu Phật 4. Tám Quyển Sách Quý 5. Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm 6. Triết lý Đạo Phật 7. Kinh Viên Giác 8. Kinh Kim Cang Bát Nhã 9. Tâm Kinh 10. Luận Đại Thừa Khởi Tín 11. Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận 12. Luận A Đà Na Thức 13. Đại Thừa Bá Pháp Minh Môn Luận 14. Duy Thức Tam Thập Luận. 15. Luận Duy Thức Phương Tiện Đàm 16. Nghi thức Sám Hối 17. Nghi Thức Cầu An Cầu Siêu 18. Kinh Vu Lan dịch nghĩa 19. Kinh Tam Bảo 20. Kinh Di Đà dịch nghĩa và các bài Sám 21. Nghi Thức Trì Ngũ Bộ Chú 22. Nghi Thức Tọa Thiền Niệm Phật 23. Nghi Thức Kinh Hành Niệm Phật 24. Nghi Thức Thọ Bát Quan Trai Giới 25. Nghi Thức Đọc Trì Chú Phổ An 26. Nghi Thức Tụng Hoa Nghiêm Tự Mẫu 27. Sự tích Đức Di Lặc Tôn Phật 28. Lục Tổ Huệ Năng 29. Tổ Bồ Đề Đạt Ma 30. Ông Trưởng Giả Kén Rể 31. Tiên Nữ Đồng Tâm Đầu Phật 32. Nàng Bạch Tinh Xuất Gia 33. Phái Đoàn Phật Giáo Việt Nam 20 Ngày ở Nhật 34. Tinh thần có phải do vật chất sanh 35. Tam Quy Ngũ Giới 36. Năm Mưới Năm Chấn Hưng Phật Giáo 37. Bài Học Ngàn Vàng (4 tập) 38. Phật Học Thường Thức (Chủ biên) KẾT LUẬNTrong suốc cuộc đời của ngài, chúng ta thấy Ngài luôn luôn xả thân cho sự tồn vong của Phật Giáo và hành Pháp thí của Ngài vẫn giữ cho đến ngày viên tịch. Cuộc đời của Ngài là tấm gương hạnh nguyện cao đẹp rực rỡ mà mọi người con Phật vô cùng ngưỡng mộ và phát nguyện học tập. Là Huynh Trưởng GĐPT nhất là Liên Đoàn Trưởng nguyện xứng đáng với hoài bảo mà Cố Thượng Tọa Viện Trưởng đã để lại cho Phật Giáo Đồ Việt Nam. |
|
