Trại Huấn Luyện
Huynh Trưởng Cấp II
Huyền-Trang



 
Chương trình
Trại Huấn Luyện
HUYỀN-TRANG.

 

Lời ngỏ

 

I. Tổng quát 4 bài

II. Phật Pháp 4 bài

III Phật giáo 4 bài

IV Điều động 5 bài

 

           ***

   

 

Phần III - Phật giáo: 4 bài

 

Bài 2

CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG

ĐỆ NHẤT TĂNG THỐNG GHPGVNTN

THÍCH TỊNH KHIẾT


  

Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ Nhất Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, là một trong năm vị Đại Hòa Thượng sáng lập An Nam Phật Học Hội cùng với 18 vị cư sĩ mà Trưởng giả Tâm Minh Lê Đình Thám là vượt trội hơn cả.

Ngài là vị đồng chân xuất gia, tục danh là Nguyễn văn Kỉnh, sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (1890), con trai thứ 3 của Cụ Nguyễn văn Toán và Cụ Bà Tôn Nữ Thị Lý, quán làng Dương Mong Thượng, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

Thuở nhỏ theo Nho học, tư chất thông minh, chẳng bao lâu làu thông kinh sách. Lúc 15 tuổi xin song thân xuất gia tu học cùng anh ruột tại chùa Tường Vân, làng Dương Xuân Hạ, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Bổn sư là Ngài Thanh Thái, dòng Lâm Tế, được thầy ban cho pháp danh Thượng Trừng Hạ Thống tự là Chân Thường và về sau thọ Đại Giới Đàn cụ túc có Pháp hiệu là Tịnh Khiết.

Vì là người tư chất khác phàm, phong độ oai nghi, giới hạnh tinh chuyên, đức độ hòa mục nên được Chư Tôn đặc cách miễn tuổi. Lúc 19 tuổi được thọ Tam Đàn Cụ Túc mà Ngài Vĩnh Gia là Hòa Thượng Đầu Đàn .

Trở về chùa phát tâm thọ bộ Vạn Phật trong 3 năm. Đến năm 23 tuổi, song thân đồng từ trần một lúc đúng như ý nguyện của 2 cụ lúc còn sinh tiền.

Năm ngài 26 tuổi làm Trụ trì chùa Phước Huệ. Năm 30 tuổi được Hòa Thượng Phước Chỉ cho Pháp hiệu là Tịnh Khiết.

Năm 32 tuổi, Hòa Thượng Phước Chỉ viên tịch, Ngài trở về Tổ đình thọ tang Thầy, rồi vào Cao Đẳng Phật Học thọ học cùng quý Ngài Thiên Hương, Phước Huệ đồng thời cùng tham cứu kinh điển trong một thời gian 3 năm.

Năm 42 tuổi Ngài làm Dẫn Thỉnh Sư Đại Giới Đàn Từ Hiếu. Hai năm sau Hòa Thượng Tịnh Hạnh, anh ruột của Ngài viên tịch tại Từ Hiếu, Ngài về kế vị trụ trì tại đó.

Năm 1940 , Ngài làm Giám Đốc Đạo Hạnh Cao Đẳng Phật Học Đường Tường Vân và Báo Quốc. Có những Tăng sinh về sau trở thành bậc Pháp khí như cố Hòa Thượng Thiện Hoa, cố Hòa Thượng Thiện Hòa, cố Hòa THượng Hành Trụ, Hòa Thượng Trí Tịnh, cố Hòa Thượng Thiện Minh, các Ngài Trí Quang, Thiện Siêu.

- Năm 1944 làm Yết Ma Đại Giới Đàn Thuyền Tôn

- Năm 1947 làm Tòng Lâm Pháp Chủ Trung Việt

- Năm 1948 Đầu Đàn Hòa Thượng Đại Giới Đàn Báo Quốc.

- Năm 1950 Tổng Hội Chủ Phật Giáo Việt Nam

- Năm 1951 Chủ tọa Đại Hội Tăng Già Toàn Quốc tại chùa Quán Sứ Hà Nội

- Năm 1952 Chủ tọa Lễ Truy phong Pháp Chủ tại Tổ Đình Ấn Quang

- Năm 1955 dự Đại Hội Phật Giáo tại Sri Lanka

- Ngày 20.02.1962, gởi 2 kháng thư lên Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Lưỡng Viện Quốc Hội, phản đối việc kỳ thị tôn giáo.

- Ngày 20.08.1963, bị thương trong ngày đầu Pháp nạn.

- Năm 1964 được chư Tăng cung thỉnh lên ngôi vị Tăng Thống và vào Ấn Quang để tiếp tục sự nghiệp.

- Năm 1968 gởi Thông điệp Sứ mệnh Hòa bình

- Năm 1972 nhân mùa Phật Đản, ngài viết một bản Thông điệp hòa bình kêu gọi các phe lâm chiến hãy thương thảo về vấn đề cuộc chiến thay cho giải pháp quân sự. Lời lẽ thống thiết đạo tình.

- Năm 1973 gởi Thông điệp Ý lực tự giác.

- Tháng 11 năm Nhâm Tý, Hội Đồng Lưỡng Viện làm lễ tiễn đưa Ngài từ Quảng Hương Gìa Lam về lại Cố đô Huế.

 

Ngài viên tịch vào lúc 20 giờ 45, ngày 23 tháng Giêng năm Qúi Sửu (25.02.1973) tại Tổ Đình Tường Vân thọ 83 tuổi, hạ lạp 64. Pháp hiệu Thanh Trai.

Ngài có hơn 50 đệ tử xuất gia và hàng tại gia thì số nhiều không kể xiết.

Vì Ngài là bậc chân tu, văn phòng Viện Tăng Thống có phụng soạn tiểu sử đời Ngài khá chi tiết và tỉ mỉ, xin quí vị độc giả tham khảo thêm.