Trại Huấn Luyện
Huynh Trưởng Cấp II
Huyền-Trang



 
Chương trình
Trại Huấn Luyện
HUYỀN-TRANG.

 

Lời ngỏ

 

I. Tổng quát 4 bài

II. Phật Pháp 4 bài

III Phật giáo 4 bài

IV Điều động 5 bài

 

           ***

   

 

Phần III - Phật giáo: 4 bài

 

Bài 1

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ 1963


  

     I.      DẪN NHẬP

Cuộc vận động năm 1963 của Phật tử Việt Nam không phải xuất phát từ sự tranh chấp giữa người Phật giáo và người Ki tô Giáo. Cuộc vận động này chỉ nhằm chống lại chế độ độc tài nhà Ngô. Cuộc vận động đã được các giới không phải Phật tử ủng hộ, trong đó có nhiều thành phần Ki tô Giáo, kể cả linh mục và giáo hữu. Họ đại diện cho những người Ki tô Giáo có lương tri, có óc phê phán công chính, có thừa cam đảm để chống lại những gì đi ngược lại tinh thần Phúc Âm chân chính. Cuộc vận động còn được hầu như cả dư luận thế giới ủng hộ.

 

 II.      NGUYÊN NHÂN

1- Nguyên nhân xa: Phật Giáo bị chèn ép.

Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế từ năm 1955 nhưng Dụ số 10 do ông ký ngày 6.8.1950 vẫn được nhà Ngô thi hành. Dụ này chỉ nhìn nhận Ki tô giáo là tôn giáo, không bị ràng buộc vào thể chế hiệp hội. Các tôn giáo khác, kể cả Phật Giáo, đều là những hiệp hội. Ví dụ: Chỉ có An Nam Phật học hội, Hội Phật học Nam Việt v.v...mà không như Giáo Hội Công giáo Việt Nam hay Giáo Hội Thiên chúa Việt Nam. Chế độ còn ép uổng người Phật tử bỏ đạo hay vu khống, chụp mũ để bắt bớ, giam cầm những Tăng sĩ hay Cư sĩ, cán bộ trung kiên của các tổ chức Phật Giáo. Đầu năm 1963, Hội Phật Giáo Việt Nam tại trung phần đã công bố hai tập tài liệu ghi chép những vụ vi phạm nhân quyền, kỳ thị tôn giáo và đàn áp Phật tử từ năm 1959 đến năm 1963 (tập 1 dày 49 trang; tập 2 dày 98 trang).

Nghiêm trọng hơn hết là năm 1957 chính quyền ra lệnh loại bỏ ngày Phật Đản ra khỏi số ngày nghỉ chính thức trong năm. Để trả lời lệnh này của nhà Ngô và cũng để tỏ thái độ, Phật Đản năm ấy được tổ chức rầm rộ hơn mọi năm.

2- Nguyên nhân gần: Triệt hạ cờ Phật Giáo trong ngày Phật Đản (1963).

    Ngày 6.5.1963 (nhằm 13.4 Qúi Dậu), từ Văn phòng Tổng thống gởi một công điện ra Huế chỉ thị cấm treo cờ Phật Giáo. Sáng ngày 7.6.1963, Hòa Thượng Pháp Chủ cùng quý Thầy Mật Nguyện, Trí Quang, Mật Hiển, Thiện Siêu tới gặp Nhà cầm quyền đánh điện vào Sài Gòn phản đối nhưng vô hiệu. Đến 2 giờ chiều, nhân viên công lực đi khắp thành phố HUẾ triệt hạ cờ Phật Giáo.

 

III.      CÔNG KHAI VẬN ĐỘNG:

Trong cuộc rước Phật ngày Rằm tháng Tư từ Diệu Đế về Từ Đàm, Phật tử đã trương biểu ngữ đòi bình đẳng tôn giáo, nhưng Thầy Trí Quang và Mật Hiển ra lệnh tịch thu. Phật Giáo tranh đấu trong im lặng, không ồn ào và bất bạo động. Tối hôm đó Đài Phát Thanh Huế không tường thuật buổi Lễ Phật Đản như chương trình đã loan báo trước. Phật tử kéo về Đài Phát Thanh mỗi lúc một đông để chờ nghe đài tường thuật lại buổi lễ. Trong khi đó Chính quyền điều động các lực lượng công an, cảnh sát, quân đội đưa xe tăng, thiết giáp bao vây đồng bào Phật Tử. Tỉnh Trưởng Nguyễn Văn Đằng đến thì bị Phật Tử  phản đối, xe vòi rồng bắt đầu xịt nước rồi súng nổ vào rừng người hỗn loạn. Kết quả 14 Phật tử bị thương, 9 Phật tử thiệt mạng. Phật tử bao vây các cơ quan. Quân đội và các lực lượng vũ trang sẵn sàng bắn xả. Tỉnh Trưởng kêu gọi Thầy Trí Quang khuyên Phật Giáo đồ bình tỉnh. Ngày 10.5.1963, Tăng Ni Phật Tử ra tuyên ngôn xác định lập trường tranh đấu đến cùng để đạt nguyện vọng, cụ thể qua 5 điểm:

1) Chủ trương và hành động bất bạo đông nhưng cương quyết không run sợ trước bạo lực.

2) Không lật đổ Chính phủ mà chỉ đòi hỏi cải thiện chính sách và nhắm vào mục đích công bằng xã hội.

3)Ý chí và nguyện vọng:

·   Cờ Phật giáo phải được treo ở tư gia Phật tử trong những ngày lễ Phật Giáo.

·   Đòi hỏi sửa đổi hoặc hủy bỏ điều 44 Đạo Du số 10 đặt tôn giáo trong đó có Phật giáo ra ngoài sự hạn chế của các hiệp hội.

4) Chấm dứt hành động khủng bố, trả thù, cố sát, ngược đãi và vu khống Phật giáo đồ trên cả nước.

5) Mục tiêu công bằng, bình đẳng phải được thực hiện trong đó có công bằng với các tôn giáo.

 

 

- Tuyên ngôn của tín đồ Phật Giáo Việt Nam ký ngày 10.5.1963 đòi nghiêm trị kẻ giết người ở Đài Phát Thanh. Bồi thường cho Phật tử nạn nhân, thực thi bình đẳng tôn giáo, xóa bỏ Đạo Dụ số 10.

- Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết đã gởi một bản ghi chép những nguyện vọng của Phật giáo như trên đòi Chính phủ phải thực thi.

- Ngày 15.5.1963, Ban Đại diện 5 cấp Trị Sự Phật giáo được thành lập. Phật Giáo Nam Tông, Bắc Tông đã sát vai trong sự sống còn chung của Đạo Pháp. Đại diện Phật giáo vào Đinh Độc Lập bày tỏ nguyện vọng trước khi có thái độ cứng rắn.

- Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam

- Đại Diện 5 cấp Trị Sự

- Phật Giáo Nam Tông

- Linh Mục Lê Quang Oánh và đồng bào Thiên Chúa giáo Tuyên Đức- Đà Lạt.

- 11 Tông phái Giáo hệ đồng loạt ký một Tuyên ngôn ủng hộ Tuyên ngôn 5 điểm của Hội đồng 5 cấp Trị Sự và loan báo Đạo pháp lâm nguy.

- Sinh viên Phật tử, các đoàn thể Giáo hội bạn ủng hộ. Đại Đức Thích Quảng Đức xin tự thiêu. Biểu tình tuần hành im lặng phản đối Nhà cầm quyền liên tục. Tuyệt thực khắp nơi trên toàn quốc.

- Ngày 11.6.1963 (20.4 nhuần) Thượng Tọa Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng-Lê văn Duyệt. Ngài gởi lời nguyện tâm huyết lên Tổng Thống Diệm, mong chư Phật độ trì Tổng Thống sáng suốt thực hiện 5 điều thỉnh nguyện của Phật Giáo. Cầu cho Phật Giáo Việt Nam được trường tồn, đất nước thanh bình an lạc.

Hòa Thượng Quảng Đức tự thiêu, cả nước kinh hoàng, thế giới rung động. Điện văn các nước ủng hộ lập trường Phật Giáo ùn ùn gởi về Việt Nam, báo chí Quốc tế bắt đầu bình luận.

 

IV.      DIỄN TIẾN

Ủy Ban Liên Phái bảo vệ Phật Giáo ra đời gồm 11 Tông phái Giáo hệ. Chính quyền lập Ủy Ban Liên Bộ để liên lạc giải quyết vần đề Phật giáo. Chính quyền đã thực sự lung lay từ gốc rễ. Sau vụ tự thiêu, các tỉnh vùng lên đồng loạt.

Hai phái đoàn đã họp gần như suốt 72 tiếng đồng hồ và Thông cáo chung đã được loan báo vào lúc 09 giờ ngày 14.06.1963. Bản Thông Cáo Chung đã được Phái đoàn Phật giáo gồm 3 Thượng Tọa (Thích Thiện Minh, Thích Tâm Châu và Thích Thiện Hoa) cùng Ủy Ban Liên Bộ (gồm Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyền Đình Thuần và Bùi văn Lương) đồng ký chỉ. Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết khán duyệt và Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký thuận để thi hành. Ngày 16.6.1963 ở đó các nguyện vọng của Phật Giáo được thực thi đầy đủ. Mười ngày sau ông Nhu mạ nhục Phật giáo trước lực lượng Thanh Niên Cộng Hòa mà ông là lãnh tụ. Các chùa chiền bị liên tục tấn công. Tăng Ni Phật tử bị bắt bớ giam cầm gia tăng. Hòa Thượng phải gởi kháng thư lên Tổng Thống. Một mặt thì đàm phán giải thích một mặt gia tăng vi phạm trấn áp đồng bào và Tăng Ni. Ủy Ban Liên Phái mở họp báo công bố những trường hợp vi phạm và thái độ ôn thuần của Phật Giáo.

Bộ trưởng Nội Vụ ban hành Nghị định số 358 đề ngày 9.7.1963 chỉ quy định việc treo cờ và chỉ thỏa mãn Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, không đề cập đến các Tông Phái Giáo Hệ Phật Giáo. Do vậy phản ứng của Phật Tử lại bộc phát.

- Tổng Hội Phật Giáo Thế Giới ủng hộ sự tranh đấu của Phật Giáo Việt Nam.

- Giáo Hội Phật Giáo Nhật Bản ủng hộ Phật Giáo Việt Nam và gởi kháng thư đến Tổng Thống Diệm, kêu gọi Giáo Hoàng Vatican có ý kiến.

- Giáo Hội Tin Lành Mỹ bất tín nhiệm Chính quyền Ngô Đình Diệm.

- Khắp nơi đều biểu tình đòi thực thi Thông Cáo Chung trên nguyên tắc bất bạo động, tuân hành tuyệt thực không gây rối loạn. Đồng bào cả nước hầu như ngưng sinh hoạt để theo dõi tình hình. Tổng Thống phải có lời hiệu triệu quốc dân, nhưng vẫn không từ bỏ sự lừa dối, tổ chức Tăng đoàn giả, dựng lập, mua chuộc Phật giáo Cổ Sơn Môn Việt Nam chống lại Phật Giáo

- Tổ chức biểu tình gọi là thương phế binh, nhân dân tự vệ đòi chính Phật Giáo lên án kết tội Bác sỹ Tâm Minh Lê Đình Thám miền Bắc sáng lập Tổng Hội Phật Giáo miền Nam tay sai cho Việt Cộng.

- Sinh viên, học sinh biểu tình ủng hộ Phật giáo.

     Ngày 13.7.63, Ủy Ban Liên Phái bảo vệ Phật Giáo ra Tuyên ngôn nhất mực đòi hỏi Chính quyền phải nghiêm túc tôn trọng thực thi Thông Cáo Chung.

- Thầy Nguyên Hương  tự thiêu tại Phan Thiết  ngày 4.8.1963. Đàn áp lại bắt đầu.

- Phật tử nữ sinh Mai Tuyết An chặt tay ủng hộ Phật Giáo và cầu nguyện Đạo Pháp khỏi tai nạn, đòi Chính quyền lưu tâm đến tự do tín ngưỡng.

- Đại Đức Thích Thanh Huệ tự thiêu ở Huế ngày 13.8.1963.

- Ngày 15.8.1963, Ni sư Diệu Quang  tự thiêu tại Ninh Hòa - Nha Trang.

- Ngày 16.8.1963, Thượng Tọa Thích Tiêu Diêu tự thiêu tại Huế.

- Giáo sư Đại Học Huế từ chức để ủng hộ Phật Giáo ở Huế ngày 17.8.1963.

Các Hội Phật Giáo các nước Tích Lan, Thái Lan, Đài Loan, Tân Gia Ba, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ đánh điện ủng hộ. Liên Hiệp Quốc đồng tình cảnh cáo chế độ Tổng Thống Diệm.

Tổng Thống tuyên bố Tổ Quốc lâm nguy, ra lệnh thiết quân luật, bắt bớ, phá chùa gia tăng.

Ngày 7.7.1963, Nhà văn Nhất Linh tự vận phản đối Chính quyền đã xét xử, cộng với tình hình đàn áp Phật Giáo.

- Ngoại Trưởng Vũ văn Mẫu từ chức, cạo đầu chống Chính phủ. Sinh viên, học sinh khắp nước biểu tình, bãi khóa ủng hộ Phật Giáo.

- Nữ sinh Quách Thị Trang đã hy sinh tại công trường Diên Hồng trong cuộc biểu tình ngày 25.8.1963.

- Sinh viên Hoa Kỳ biểu tình ở Tòa Bạch Ốc đòi Chính phủ Hoa Kỳ bất tín nhiệm chế độ Ngô Đình Diệm.                                        

- Phái đoàn Tăng Ni vượt biên giới để cổ động các nước ngày 28.8.1963.

- Đạo hữu Nguyền Thìn tự thiêu tại Vũng Tàu ngày 29.9.1963

- Đại Đức Thích Thiện Mỹ tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà ngày 27.10.1963.

- Phái đoàn L.H.Q đến Sài-Gòn viếng thăm Xá Lợi, Ấn Quang ngày 25.10.63: 9 giờ sáng Phái đoàn gặp Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, lúc 13 giờ Cách mạng nổ súng, chế độ ông Diệm bị lật đổ. Hội Đồng Tướng Lãnh Cách Mạng do Tướng Dương văn Minh cầm đầu. Tất cả Tăng tín đồ Phật Giáo bị giam cầm được ưu tiên phóng thích.

 

   V.      THÀNH QUẢ CỦA ĐẤU TRANH

Đó là thiện chí đoàn kết và vô úy thống nhất. Từ Trung Ương đến thôn làng, Phật Giáo đồ tuân hành Giáo chỉ, qui tụ về Niệm Phật Đường, chùa chiền im lặng giăng biểu ngữ, đòi hỏi nguyện vọng của mình, bất bạo động, tuyệt thực. Quần chúng thấu đáo đường lối của Phật giáo và biết rõ dã tâm của Chính quyền.

Dù bị xuyên tạc, chụp mũ, mưu đồ phân hóa các Tông phái giáo hệ Phật Giáo Thống Nhất nhưng Tăng Tín đồ Phật Giáo trước sau như một, âm thầm nhẫn nhục chịu đựng không thoái xuất chí hướng.

Cuộc đấu tranh thành công, Phật giáo trở về cương vị tôn giáo của mình, không tranh dành đoạt lợi, xen lẫn vào Chính quyền. Nỗ lực hợp tác củng cố nội bộ, thống nhất Giáo Hội, củng cố Giáo quyền, trang nghiêm Tăng chúng.

 

 

 

VI.      PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

Đại Hội Phật Giáo:

Cuộc cách mạng lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm thành công, Tăng tín đồ Phật Giáo bị giam cầm được phóng thích, tất cả đều trở về chùa Xá Lợi. Ủy Ban Liên Phái bảo vệ Phật Giáo tiếp tục sứ mạng tiến hành Đại Hội Phật Giáo gồm có 2 Tông phái Bắc Tông và Nam Tông gồm 11 Giáo hệ, để đi đến chỗ thống nhất Giáo quyền. Các sắc thái đặc thù của Môn phái giáo hệ vẫn giữ nguyên. Đây là một ưu điểm nổi bật của Tăng đoàn Việt Nam, không quốc gia nào có được. Bản Hiến Chương Phật Giáo được ra đời, đánh dấu một thời cường thạnh và có thể nói phong trào chấn hưng Phật Giáo Việt Nam đã đạt đỉnh cao. Bản Hiến Chương Phật Giáo gồm có 11 Chương, 32 Điều do sự kết hợp thống nhất giữa 11 phái đoàn Phật giáo trong nước đồng soạn lập.

1) Phái đoàn Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy: Đại Đức Giới Nghiêm

2) Phái đoàn Giáo Hội Tăng Già Trung Phần: Thượng Tọa Thích Trí Thủ.

3) Phái đoàn Giáo Hội Thiền Tịnh Đạo Tràng: Đại Đức Thích Pháp Triều.

4) Phái đoàn Giáo Hội Tăng Già Nam Việt: Thượng Tọa Thích Trí Tịnh.

5) Phái đoàn Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt: Thượng Toa Thích Tâm Giác.

6) Phái Đoàn Giáo Hội Tăng Sĩ Therevada: Đại Đức Thạch Gồng.

7) Phái đoàn Phật Giáo Nguyên Thủy: Đạo Hữu Nguyễn văn Điểu

8) Phái đoàn Hội Phật Học Nam Việt: Đạo Hữu Chánh Trí Mai Thọ Truyền.

9) Phái đoàn Giáo Phái Therevada: Đạo Hữu Sơn Thái Nguyên.

10) Phái đoàn Hội Phật Giáo Việt Nam Trung  Phần: Đại Đức Thích Đức Tấn.

11) Phái đoàn Hội Việt Nam Phật Giáo Bắc Việt: Đạo hữu Viên Trạm Vũ Bảo Vinh.

     Sau khi bản Hiến Chương Phật Giáo được Tổng Trưởng Nội Vụ duyệt thuận bằng Nghị Định số 329 ngày 14.5.1963, Giáo Hội Cổ Sơn Môn gia nhập G.H.P.G.V.N.T.N và tiếp theo là Sắc Luật số 158 ngày 14.5.1964 của Hội Đồng Chính Phủ.

 

VII.      KẾT LUẬN.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất nói riêng, Phật Giáo Việt Nam nói chung, luôn luôn tôn trọng luật pháp, phục vụ và đòi hỏi những nguyện vọng chơn chánh của dân tộc. Phật giáo chỉ biểu tình bày tỏ nguyện vọng chánh đáng, không chấp nhận đấu tranh sắt máu, mà chỉ bày tỏ thiện chí và hành xử quyền hạn của công dân mà luật pháp công nhận. Luôn luôn nhận chịu khổ đau, mất mát để sửa tâm ý quần chúng, thức tỉnh lương tâm con người, phục vụ chân lý trật tự, an vui công bằng và bình đẳng xã hội.