Chương trình
Trại Huấn Luyện
Anoma - Ni Liên.1-Lịch
Sử Ðức Phật Thích Ca
2-Hiểu
mình Hiểu bạn
3-Họp
Ðội Chúng
4-Ý
nghĩa của Trại
5-Hình
thức, Hiệu lệnh Tập họp
6-Ngũ
Giới
7-Ðức
tin
8-Cắm
trại
9-Tinh
thần Ðồng Ðội
10-Kỷ
luật
11-Sinh
hoạt và tổ chức
12-Báo
chí
13-Thủ
công
14-Góc
Ðội Chúng
15-Nghề
Ðội Chúng |
(Từ sơ sinh đến nhập
diệt)
I. Ấn Ðộ trước khi
Phật mới sanh:
Là một nước:
Về lãnh thổ bị phân chia từng nước
nhỏ có vua quan riêng, có binh lính riêng, thường
sát phạt nhau, khuynh đạo nhau.
Về học thuật
tư tưởng thì có trên 60 phái, từ duy thân,
duy tâm, đến duy vật chống báng nhau.
Về tôn giáo thì Bà
La Môn Giáo ngự trị với chế đạo với
giai cấp nặng nề do Bà La Môn thống trị.
Giai Cấp Palia - giai cấp hạ tiện nhất - bị
muôn ngàn áp bức, khống chế, hành hạ.
Lòng người ly tán, thần quyền tự trị,
xã hội bất công. Trong sự đổ vỡ
ấy, Thái Tử Tất Ðạt Ða ra đời, và
sự ra đời ấy quả thật cần thiết
để thống nhất lại nước Ấn
Ðộ, thống nhất lại nhân dân.
II. Nhìn vào đời sống của
Ðức Phật Thích Ca:
Trước hết, "Phật" cũng là
"người" như chúng ta, Ngài cũng mang tâm
trạng hết sức là người, vui, buồn,
lo lắng, thắc mắc, băng khoăn, dằn vặt
và chịu đựng được mọi sự
bi đát của thân phận người.
Nhưng, cái thân phận bèo bọt ấy có đủ
khả năng tiến bộ, tiến bộ đến
mức cao nhất - Ðại Giác. Suốt cuộc
đời của Thái Tử Tất Ðạt Ða đến
địa vị Phật Ðà tất cả những
diễn biến đều có sứ mạng chứng
minh cái khả năng vô thượng ấy. Ðó là
niềm tin cao ngất, và niềm tin ấy được
báo hiệu qua lời nói của Thái Tử Tất Ðạt
Ða khi mới giáng sinh: ỀTrên trời dưới
đất chỉ có khả năng chứa đựng
trong con người là độc tônỂ, "Thiên
thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn".
Mỗi một cử chỉ, mỗi một hành động,
mỗi lời nói là một bài học, là cả một
bài thuyết pháp không lời. Ðó cũng là một lối
giáo dục - giáo dục bằng hành động.
Ðó là những điều hết sức cần
thiết để chúng ta học lịch sử của
Ðức Phật. Ðó là những bài học mà các em
đội chúng trưởng cần phải tìm tòi
để ứng dụng vào nếp sống đội
chúng trưởng của mình. Có như thế, chúng
ta mới thâu nhập được những tinh hoa
cho đời sống cho cá nhân cũng như đoàn
thể. Với nhận thức căn bản ấy,
chúng ta đi vào lịch sử của ngài.
III. Lịch sử Ðức Phật
Thích Ca:
Hai giai đoạn lớn:
*Từ giáng sinh đến thành đạo.
*Từ thành đạo đến nhập diệt.
Giai đoạn đầu là giai đoạn học
hỏi nhiều, vì biểu dương một sự
cố gắng phi thường, gây cho chúng ta nhiều
quan niệm sống
A.Giáng Sinh:
Giáng sinh vào dòng họ quý tộc vương giả
của vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia đều
lấy lòng nhân ai để cai tri dân chính, sự từ
bỏ ngai vàng điện ngọc để dấn
thân vào con đường chông gai sau này làm nổi
bật lên ý nguyện cứu thế của Thái Tử.
Dòng nước mắt của đạo sĩ A
Tư Ðà đã là những giọt nước mắt
chân thành của bất cứ ai cảm thấy mình
không được duyên lành nghe những lời thuyết
pháp của vị đại giác ngộ.
Ngày trăng tròn tháng tư là ngày Ðản Sanh của
Phật, ngày biểu hiệu cho:
- Hòa Bình, vì đạo Phật là đạo của
tình thương.
- An lạc, vì đạo Phật diệt trừ tham
lam, sanh hận và si mê, nguồn gốc của chiến
tranh.
- Bình đẳng, vì đạo Phật chủ
trương không có giai cấp trong nước mắt
cùng mặn, trong máu cùng đỏ; không những chỉ
bình đẳng giữa người và người mà
bình đẳng ở giá trị tuyệt đối
con người (Ta là Phật đã thành, chúng sanh là
Phật sẽ thành). Mọi chúng sanh đều có khả
năng thành Phật
B.Tâm trạng của
Thái Tử Tất Ðạt Ða:
Sống trong nhung lụa, trong sự nuông chìu của
vua quan, trong viện ảnh nối nghiệp ngôi báu của
vua cha, tâm trạng của Thái Tử chưa hề
được yên ổn vì luôn luôn bị giằn vặt
bởi những thực tế cuộc đời: sự
sống, bệnh tật, già nua và chết chóc. Những
lo âu ấy cho ta thấy cái ý hướng của Thái
Tử theo chiều đại chúng, nhân loại.
Tâm trạng ấy làm cho hoàng gia lo ngại tìm
cách giữ con lại với ngai vàng và Ềtơ tình
tuy mành mà chắcỂ.
C. Cuộc tranh hùng:
Mà phần thưởng là do Da-Du-Ðà-La, một cô
gái vẹn toàn, theo tập tục đương thời
thi cung, thi kiếm, thi cưỡi ngựa. Trong ba cuộc
thi, cuộc thi cưỡi ngựa để lại
cho chúng ta nhiều bài học quý giá: bài học chinh
phục con ngựa ô khó tính. Sự trinh phục dựa
trên tình cảm và tình thương là một sự
trinh phục có thành quả lâu bền và vững chắc,
và là một kinh nghiệm mà người diều khiển
không thể không suy nghiệm.
D. Ra đi:
Trước khi rời khỏi cung điện, Thái
tử cũng đà suy nghĩ rất nhiều về
quyết định trọng đại ấỵ.
Ba lần ra đi, ba lần trở lại nhìnvợ
đẹp con thơ lòng xao xuyến. Nhưng vì nghĩa
cả Thái Tử quyết cùng với Xa Nặc, với
Kiền Trắc ra đi trong đêm đen sau một
buổi tiệc linh đình trong cung vua. Ðến bờ
sông Anoma Thái Tử đã:
Cắt bỏ tóc tượng trưng cho sự dứt
bỏ phiền nào nghiệp chướng.
Cởi chiếc vương bào, là muốn dứt
khoát địa vị, lợi danh.
Vĩnh biệt vương bào, không muốn chinh phục
đất cát bằng lưỡi kiếm nhọn
như ngài đã nói: ỀTa không muốn làm một
kẻ chinh chiến, tắm bánh se trong máu đào của
muôn bãi chiến để rồi lưu lại cho hậu
thế một kỷ niệm ghê gớm.Ể
Tất cả những thứ ấy - những thứ
ràng buộc - đều được gởi trả
lại Phụ Vương để biểu lộ ý
chí cương quyết của Thái Tử. Thiếu
ý chí và sự quyết tâm thì mấy ai làm
được gì trên đời này?
E. Học hỏi:
Thái Tử đã tìm thầy học đạo.
Nghe đâu có thầy giỏi là Thái Tử đến
đó để học hỏi. Cuối cùng Thái Tử
tu khổ hạnh với năm vị Sa-Môn. Mỗi
ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt
đậu, uống nước sông cùng chịu bao
nhiêu sự ép xác khác gây ngạc nhiên và thán phục
của những người đồng tu. Khổ hạnh
cho nên thân mòn sức kiệt mà ánh đạo thì vẫn
chìm trong bóng tối. Thái Tử sắp ngã gục
trong quãng đường đang bỏ dở thì câu
chuyện về sợ dây đàn của những
nàng ca nữ làm Thái Tử tỉng giấc để
về với con đường Trung-Ðạo, con
đường vượt ra ngoài hai thái cực
buông lung và ép xác.
Sau đó, ngài nhận bát Nê-Hồ của nàng
Tu-Xa-Ðề rồi xuống tắm ở sông Ni-Liên.
Ngài cảm thấy khoan khoái, tinh thần trở lại.
Ngài bước từng bước chắc chắn và
vững mạnh đến ngồi tại gốc cây
Tát-Bát-La và phát nguyện: ỀDù máu ta có khô, xương
ta có mục, ta cũng không rời khỏi chốn
này nếu ta không tìm được đạo.Ể
Một lời hứa và chỉ hứa với mình
mà thôi nhưng nó có giá trị quyết định.
Ý chí, quyết tâm là hai điều kiện cần
thiết để thành công.
F. Ánh Ðạo và Ma Vương:
Ngày thứ 49 của những chuỗi ngày thiền
định dưới gốc Ðại-Thọ, từ
trán Thái Tử phóng ra những tia hào quang, dấu hiệu
của trí giác. Ma Vương hiện thân của tội
lỗi, của phá hoại tìm cách quấy phá. Ðủ
mọi thứ Ma Vương: Tham, Ái, Nghi, Ngã mạn,
Sân hận, Vị kỷ, Phá giới, v.v nhung nguy hiểm
nhất là ác quỷ dục tình. Nhưng tất cả
không làm cho Thái Tử mảy may xao động.
Ðầu canh năm, cúng với bình minh vùng dậy,
trời và người hân hoan chào mừng vị Ðại-Giác-Ngộ:
Phật Thích-Ca Mâu-Ni và cây Tát-Bát-La được
mang tên là cây Giác-Ngộ, Cây Bồ-Ðề (Bodhi:
giác ngộ).
G. Chuyển pháp luân:
Bánh xe được chuyển lần đầu
tiên tại vườn Lộc Uyển và năm vị
hiền giả do Kiều Trần Như lãnh đạo
gồm: Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lục,
Ca Diếp, Mabanam, Câu Di, Sau đó, hoàng tử Gia Ma
cùng với 34 vị quý tộc đến quy y Phật.
Sau khi nhận giáo pháp, 30 vị đệ tử
đi khắp nơi để hoằng pháp lợi
sanh.
H. Những ngày cuối
cùng:
Rời khỏi vườn Lộc Uyển, Ðức
Phật với chiếc gậy đường rừng
này đây mai đó, đem Giáo pháp của Ngài truyền
bá khắp nhân gian, không phân biệt giàu nghèo, sang
hèn, trí thức hay đần độn. Mỗi một
lớp tuổi, mỗi một tâm trạng, mỗi một
trình độ, Ngài dùng những phương tiện
riêng và thích hợp với căn cơ của họ...
Ngài cũng không từ bỏ giai cấp hạ tiện
- giai cấp Bà Ly - để chấp thuận họ
vào hàng giáo hội.
Tám mươi tuổi, thân mòn sức yếu, Ngài
nhập niết bàn tại rừng Sa-la, giữa hai
cây song thọ. Kim thân của ngài được hỏa
táng, xương cốt thành xá-lơị. Xá-lợi
ấy được phân chia khắp các xứ. Xá lợi
được tôn trí tại các bảo tháp để
dân chúng được chiêm ngưỡng.
IV. Những suy nghĩ:
Không như những giáo chủ của các tôn giáo
khác, Ðức Phật không phải là sứ giả của
thần linh, của Thượng Ðế. Từ thân
phận con người Ngài đã chiến đấu
và chiến thắng để đạt tới Giác
Ngộ. Giáo pháp của Ngài là những phương
pháp đưa đến sự Giác Ngộ ấy. Tự
Giác Ngộ là do sự tự lực của ta, Ðức
Phật cứu độ chúng ta bằng những phương
pháp của Ngài. Những phương ấy
được diễn đạt Suốt Cả Cuộc
Ðời Ngài. Học hỏi ở đời Ngài
không phải là học hỏi ở lý thuyết mà
là ứng dụng những điều mà Ngài đã
ứng dụng. Như thế mới co ích lợi thiết
thực, mới đáp ứng được sở
nguyện của Ngài. |
|