Chương trình
Trại Huấn Luyện
Anoma - Ni Liên.1-Lịch
Sử Ðức Phật Thích Ca
2-Hiểu
mình Hiểu bạn
3-Họp
Ðội Chúng
4-Ý
nghĩa của Trại
5-Hình
thức, Hiệu lệnh Tập họp
6-Ngũ
Giới
7-Ðức
tin
8-Cắm
trại
9-Tinh
thần Ðồng Ðội
10-Kỷ
luật
11-Sinh
hoạt và tổ chức
12-Báo
chí
13-Thủ
công
14-Góc
Ðội Chúng
15-Nghề
Ðội Chúng |
I. Nguồn gốc trại:
Thời thượng cổ cuộc sống của
loài người đóng khung trong một căn nhà
nhỏ bé, chật hẹp mà trái lại được
lồng vào khung cảnh bao la, hùng vĩ của
trời cao, biển rộng, hay nơi đồng
ruộng rừng sâu. Chính cuộc sống du mục này
đã là một nguyên nhân khiến con người thích
những gì phóng khoáng.
Khi cuộc sống tập thể của con người
bắt đầu hoạt động trong phạm vi
làng xóm, lúc người thanh niên khôn lớn và sau
khi am tường võ nghệ, lúc đó người
thanh niên bắt đầu đi vào cuộc đời
của một hiệp sĩ, đem tài năng
diệt kẻ tham ô, trộm cướp, chịu
đựng gian khổ, nằm gai nếm mật để
mong được toại chí. Thời gian đi như
vậy ít nhất cũng vài tuần, những người
này gặp nhau cùng với ý nguyện kết bạn
với nhau và cùng sống bên nhau trong những ngày
gian khổ. Cuộc sống hàng ngày càng chật
vật họ càng giúp đỡ lẫn nhau, do đó
tình thương yêu tha thiết giữa người
và người cũng vì đó mà tăng lên. Ðời
sống cao thượng của thiên nhiên đã mang
lại cho họ nhiều trí tuệ, họ cần
thắng ý nghĩ không cần bị đóng khung
trong bốn bức tường hẹp.
Rồi với đà văn minh, với ý chí
hợp quần, họ đã thành lập những xã
hội cỏn con sống chung với những người
cùng sở thích, tuy với thời gian quá ít nhưng
họ vẫn cố gắng giúp đỡ lẫn
nhau, sống một ngày gian khổ và thoát vát trong
mỗi việc làm. Từ những sự kiện này,
Trại đã có một khởi nguyên.
II. Ích lợi của trại:
Từ khởi nguyên như trên, ta thấy trại
đã tỏ ra hữu ích về hai phương
diện:
A. Ðối với đoàn
thể: Ðời sống đã khiến con người
thương yêu nhau trong những giờ khổ
sở, tìm hiểu được tâm tình nhau trong
những lúc gay go, nhờ đó tinh thần Ðội,
Ðoàn mới có phần tăng trưởng.
B. Ðối với cá nhân: Trại
là trường huấn luyện thanh thiếu niên
về thể, trí, và đức dục vì tại chúng
ta mới có những thú vui hồn nhiên trong sạch.
Ðời sống ở trại làm cho thân thể tráng
kiện, tạo được một sức
khỏe dẻo dai, chống đỡ được
với sương gió, tay chân quen những trò chơi
mạnh dạn, vượt núi băng rừng,
sống giữa thiên nhiên các giác quan đều
được đem ra tận dụng và kiểm
nhận một cách dễ dàng. Cặp mắt
được ngắm nhìn cảnh bao la, được
quan sát hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ,
những điều mà chính mình chưa bao giờ
thấy. Tai quen phân biệt những âm thanh, tiếng
chim hót chiều chiều trên đồi núi làm cho
họ nhận được là tiếng chim gì,
tiếng xào xạc giữa rừng khô như có con gì
đi lại... Mũi quen với những hương
vị thiên nhiên, một làn gió thoảng qua mang theo
một mùi vị, họ cũng biết nó lại
từ đâu và do những gì phát khởi.
Ðời sống gian lao đem lại nhiều đức
tính tự tin, nhẫn nại, bằng lòng chịu
đựng trên đường đời, giá
trị cần lao cũng được nâng cao,
nỗ lực gắng công trong những giờ
thủ công trại.
Ðời sống ở trại thật ích lợi và
cao qúy. Nó làm cho người thanh niên phát triển
mọi năng lực tiềm tàng mạnh nhất chưa
có dịp phát triển, đời sống trại là
đời sống của tự do, cao thượng và
thanh liêm.
III. Dự trại:
A. Chuẩn bị:
Khi được lịnh đi trại, Ðội Chúng
trưởng phải tập họp ngay Ðội Chúng
mình để chuẩn bị cho ngày trại
được chu đáo, phải cho biết thời
gian và địa điểm trại (nếu cần
phải nhờ anh chị Ðoàn trưởng xin phép).
Thông tin đầy đủ, sau đó phải
nhắc lại đồ dùng cá nhân mang theo và chia
nhau mang những đồ dùng chung của Ðội Chúng.
B. Tại trại:
Ðến địa điểm trại phải cho
họp ngay Ðội Chúng, đừng để các Ðội
Chúng sinh đi tản mát; nhận được
địa điểm đóng trại Ðội Chúng
trưởng phải tìm hướng để
dựng lều, nhưng trước khi bắt tay vào
việc, Ðội Chúng trưởng phải đọc
lại bảng phân công, nhắc lại hiệu còi,
luật trại.
C. Bế mạc trại:
Lúc hạ lều cũng như lúc dựng
trại, quanh khu vực trại, phải sạch
sẽ, không được lưu lại một
vết tích gì, đồ đạc mang theo cũng
sắp đặt ngăn nắp, khi về trại cũng
có cuộc kiểm thảo, phê bình để Ðội
Chúng sinh có thể giải bày những thắc
mắc, phải kiểm soát đồ dùng mang đi
đừng để Ðội Chúng sinh thiệt thòi
về vật chất.
Sau ngày trại, Ðội Chúng trưởng còn có
bổn phận để ý coi chừng có Ðội Chúng
sinh nào bị bệnh, bị quở mắng không,
nếu có phải cho ban Huynh Trưởng biết
để lo dàn xếp nếu sức mình không đủ
lo tròn.
IV. Tổ chức một trại
đội chúng:
Dẫn Ðội Chúng đi trại, tất là ta
đã nắm cả toàn Ðội, Chúng; Mọi
việc làm của Ðội Chúng, người Ðội
Chúng trưởng phải nhận lảnh trách
nhiệm. Vì vậy tổ chức một trại Ðội
Chúng, người Ðội Chúng trưởng phải
có cấp bậc ít nhất là Trung Thiện, hoặc
học hết chương trình Sơ Thiện,
phải có đủ khôn ngoan và lanh lẹ, có như
thế mới có đủ sức bảo đảm
Ðội Chúng của mình.
Trại Ðội Chúng phải có sự đồng
ý của toàn đội. Ðội Chúng trưởng
phải xin phép Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng
về nơi cắm trại. Trước khi đến
một địa điểm, Ðội Chúng trưởng
và phó phải đi quan sát địa điểm trước.
Chổ cắm trại gần nơi có nước
trong lành, xa thị thành để khỏi bị làm
ồn ào trể nãi mất giờ giấc của
trại, nơi cắm trại phải là chổ
rộng rãi, thoáng khí và gần đường
tiếp tế lương thực.
Trại Ðội Chúng phải có mục đích
hoặc gây thêm tinh thần, hoặc để thi chuyên
môn. Trong buổi họp trước ngày trại
phải phân chia công việc, trình bày kế hoạch
và không quên kiểm điểm lần cuối.
Phải cho Ðội Chúng sinh có nhiều giờ
nghỉ ngơi để ngày mai có sức khỏe
tiếp tục. Ðừng để cho Ðội Chúng
sinh phí sức trong cuộc vui nào dù nhỏ hay
lớn.
V. Ðồ dùng của trại:
A. Ðồ dùng của Ðội Chúng:
1.Nên dùng
đèn bão.
2.Toile de tente,
phải đủ để đóng và lót trại
cho sạch sẽ
không được
lủng rách hay quá nhớp.
3.Dụng cụ
nấu ăn phải đầy đủ.
4.Dụng cụ làm
thủ công trại: rựa, cuốc, và dao.
5.Hộp cứu
thương: phải đầy đủ thuốc
để cấp cứu khi đi đường và
trong khi chơi.
6.Linh tinh: ống
thổi lửa, cờ truyền tin.
B. Ðồ dùng của trại
sinh:
1. Ðồ chuyên môn:
a)
Viết chì, nguyên tử
b)
Sổ tay
c) Dây
(tối thiểu 5 met)
d) Còi,
gậy
e)
Cờ, địa bàn
f)
Ðèn bấm
2. Ðồ ngủ:
a)
Mền, túi ngủ
b)
Quần áo ngủ
c)
Vải lót
d)
Giấy báo (5 tờ)
3.
Ðồ vệ sinh:
a) Bàn
chải, kem đánh răng
b) Ca
hay ly
c)
Giấy vệ sinh
4.
Ðồ nấu ăn:
a)
Gạo và đồ ăn sáng
b)
Gia vị
c) Chén,
đũa, nĩa, muỗng
d)
Nồi, xoong để nấu, rổ, muỗng
lớn
e)
Dao nhỏ, diêm, củi, thùng xách nước, ấm
nước
5. Một cái trại:
a)
Cổng trại: Giản dị nhưng hợp nhãn
b)
Bếp trại: Tối thiểu phải hai bếp.
Bếp trại phải đặt nơi khuất gió
và
dưới
gió đối với liều (để tránh khói vào
và tàn bay khỏi cháy lều).
c) Nơi
đặt bếp phải sạch sẽ và người
không phận sự không lai vãng
d) Ðường
mương: Thoát nước cho mau lẹ và không
tạo thành vũng.
e)
Hố rác: Phải đào gần bếp.
VI. Những đặc tính
của trại:
- Ðạo: Từ địa điểm, đồ
dùng cho đến hình thức trại sinh
- Ðạo vị: Thể hiện tinh thần của người
con Phật
- Ðầy đủ: Từ đồ dùng, giờ nghĩ
cho đến thủ công trại
- Sạch sẽ trong toàn khu trại
- Tươi: Tô điểm trại bằng tiếng
hát giọng cười
- Hoặc không ai được nghĩ hay chơi
trong khi mọi người đều làm
- Lanh: Tháo vác, lanh lẹ trong mọi công việc
- Khỏe: Không thiếu ngủ, thiếu ăn,
uống, quá mệt, hao tốn thì giờ
- Phải có lợi: Về hiểu biết, sức
khỏe, tình thân ái, tình đồng đội
Phải làm
việc thiện: Ðó là phương tiện để
làm tăng niềm vui cho kẻ khác. |
|