|
Huyền
Trang
***Lời
cảm tạ
1-Thời niên
thiếu
2-Lập nguyện lớn
3-Trốn ra ngoài
biên cương
4-Qua
năm
phong hỏa đài và
sa mạc Qua Bích
5-Mối tình huynh
đệ
ngàn năm còn
thắm thiết
6-Qua 24 nước
Trung Á
và vượt
qua Tuyết Sơn
7-Viếng Bắc
Ấn Ðộ
8-Trên đường đến
các
Thánh địa
Phật giáo
9-Chiêm bái
các Phật tích
10-Ở tu học tại
chùa Na Lan Ðà
11-Chu du Ðông, Tây,
Nam, Bắc Ấn Ðộ
12-Tranh luận với
các phái Tiểu thừa
và ngoại đạo
13-Ðại thí trường
Vô già
14-Trên đường
về Trung Quốc
15-Ngày khải hoàn
16-Phiên dịch
kinh điển
17-Từ giã cõi đời
|
THỜI
NIÊN THIẾU
QUA HAI MƯƠI
BỐN NƯỚC TRUNG Á
VÀ VƯỢT QUA TUYẾT SƠN
T ừ
Cao Xương, Ngài Huyền Trang đi về phía Tây, sang nước A Kỳ
Ni (huyện Yên Kỳ, xứ Tân Cương). Mặc dù Cao Xương và A
Kỳ Ni là hai nước láng giềng, nhưng đường đi rất nguy
hiểm vì có nhiều bọn cướp hoành hành.
Giữa đường, Ngài
nhận thấy có nhiều thi hài của bọn lái buôn giàu có, vì
muốn vượt đi trước toán đồng hành của mình để bán cho
được giá, nên đã bị bọn cướp giết. Chính Ngài cũng
bị một toán cướp đón đường mãi lộ.
Khi đến kinh đô A Kỳ
Ni, vua nước ấy, cũng là một tín đồ nhiệt thành, đem cả
đình thần ra nghinh đón Ngài và mời vào cung. Vua truyền cung
cấp cho Ngài những thứ cần thiết để đi đường và tiếp
đãi rất chu đáo. Nhưng vua chỉ hậu đãi một mình Ngài mà
thôi, còn những người nước Cao Xương đi hộ tống, đều
không được tá túc và cũng không được cung cấp ngựa
trạm, vì giữa hai nước này thường hay có những vụ xung đột
về biên giới. Ngài Huyền Trang chỉ nghỉ lại đây một đêm,
và sáng hôm sau lên đường tiếp tục cuộc hành trình.
Ngài vượt qua con sông
lớn Giao Hà, vòng quanh chân núi Ngân Sơn, và vào nước
Khuất Chi (hay Nhục Chi hoặc Quy Tư) nay là huyện Khố Xá, khu
tự trị Duy Ngô Nhỉ.
Khuất Chi là một nước
phồn thịnh, có một nền văn hóa tiến bộ. Dân nước này
theo Tiểu thừa Phật giáo. Chính ở đây, hai thế kỷ trước
đã xuất hiện một vị Tổ sư danh tiếng là Ngài Cưu Ma La
Thập. Vị Tổ sư này, thân phụ là người Aán Ðộ, thân
mẫu là bà công chúa của nước Khuất Chi. Khi còn nhỏ Ngài
sang học đạo ở Ấn Ðộ, đến hai mươi tuổi Ngài trở
về Khuất Chi. Một đạo quân viễn chinh của Trung Hoa sang xâm
chiếm nước này và bắt Ngài về Trung Hoa. Ở đây Ngài
truyền giáo Ðại thừa và phiên dịch kinh điển từ chữ
Phạn ra chữ Hán. Trong số các kinh dịch này, có bộ kinh
Diệu Pháp Liên Hoa.
Ngài Huyền Trang đến đây
chắc không khỏi thành kính gợi lại kỷ niệm của vị Tổ
sư đã cùng một chí nguyện như mình là du nhập và phiên
dịch kinh điển từ Aán Ðộ sang Trung Hoa.
Vua nước này, cũng là
một tín đồ Phật giáo theo phái Tiểu thừa. Nghe tin Ngài đến,
vua cùng đình thần và tăng lữ trong xứ ra nghinh tiếp rất
trọng thể. Khi đám rước vào thành, một vị tăng già dâng
cho Ngài một liễn hoa tươi, để Ngài rải trước tượng
Phật và làm lễ bái yết.
Ðến bữa yến tiệc,
vua Khuất Chi vì theo phái Tiểu thừa, dọn các thức mặn, Ngài
Huyền Trang đã nhã nhặn từ chối không thọ lãnh. Do đấy,
đã xảy ra sự bất đồng ý kiến về giáo lý giữa Ngài và
vị trưởng lão Hòa thượng rất có danh tiếng ở đây là Ngài
Mộc Xoa Cúc Ða (Mokshagupta). Vị danh sư này theo phải Tiểu
thừa, đã du học ở Ấn Ðộ 20 năm, hiện là quốc sư của
vua Khuất Chi.
Vị trưởng lão Tiểu
thừa này dựa vào bộ Câu Xá Luận (Abhidharmakoca castra) để
dẫn chứng cho lý luận của mình. Nhưng Ngài Huyền Trang trả
lời:
–Ở nước tôi cũng có
bộ luận ấy, nhưng tôi nhận thấy cũng chẳng có gì sâu
sắc, nên tôi mới bỏ nước lặn lội sang Ấn Ðộ để nghiên
tầm những kinh luận Ðại thừa như bộ Du Dà (Yoga castra)
chẳng hạn.
Vị trưởng lão trả
lời:
– Ðại thừa là một
phái mới, trái với phái nguyên thủy là phái theo đúng giáo
lý của đức Bổn Sư Thích Ca. Ngài sang Ấn Ðộ để nghiên
cứu những kinh điển Ðại thừa thì thật là vô ích. Những
đệ tử chân chính của Phật không ai học những bộ kinh
luận ấy.
Ngài Huyền Trang nói
lớn:
"Bộ Du Dà (Yoga
castra) do một đai đệ tử hiện thân của đức Di Lặc nói
ra mà Ngài bảo là sai lầm, thì Ngài không sợ đọa xuống
hỏa ngục sao?
Tuy thế, sự cãi vả
về giáo lý ấy không làm cho hai vị cao tăng đại đức ấy
mất lòng trọng nể nhau. Ngài Huyền Trang ở lại nước
Khuất Chi 60 ngày, vì tuyết đang còn bao phủ núi Thống Lĩnh
chưa thể đi được. Trong thời gian ấy, hai vị thường lui
tới đàm đạo giáo lý với nhau. Ngài Huyền Trang mặc dù không
đồng ý về giáo lý Tiểu thừa mà các vị sư ở Khuất Chi
đang tu hành, cũng phải thành thật công nhận sự tinh thông các
kinh điển Tiểu thừa và sự nghiêm trì giới luật của các
vị này. Và vị trưởng lão Mộc Xoa Cúc Ða cũng thường nói
với các đệ tử mình: "Vị Hòa thượng Trung Quốc này
học thức cao rộng khó có người đối đáp nổi. Sợ rằng
ở Ấn Ðộ, vị tất đã có vị học giả uyên bác nào sánh
kịp".
Khi Ngài Huyền Trang từ
giã Khuất Chi, vua nước này cấp cho Ngài những bộ hạ theo
hầu, lạc đà, ngựa, cả một lữ đoàn, và cùng tăng lữ và
tín đồ, tiễn Ngài ra xa ngoài kinh thành.
Ngài Huyền Trang từ
Khuất Chi đi về phía Tây 60 dặm, qua một sa mạc nhỏ, đến
nước Bạt Lộc Già (hay Cô Mặc, tức Bái Thành và A Khắc
Tố thuộc Tân Cương). Ngài trọ ở đấy một đêm, rồi
lại đi tiếp về phía Tây, đến núi Tăng Sơn thuộc Thông Lĩnh
(Thiên Sơn). Ðường đi qua núi này rất là cheo leo, nguy
hiểm, núi cao như chọc trời, quanh năm đều có tuyết phủ,
băng tuyết trùng điệp chạy dài đến chân trời và lẫn
với mây. Có nhiều phiến đá khổng lồ chặn cả lối đi,
muốn vượt qua, thật là nguy hiểm. Suốt ngày, chỉ nghe
tiếng gió reo, và tuyết theo gió, đổ xuống từng trận. Giá
rét căm căm mặc bao nhiêu lớp áo cừu vẫn thấy lạnh buốt
đến xương tủy. Lữ hành phải dò từng bước một, khi thì
bám sát vào vách đá cheo leo, khi thì đu cả người từ mỏm
đá này sang mỏm đá khác.
Không có một chỗ nào
khô ráo, muốn nấu ăn thì phải treo nồi lủng lẳng giữa hư
không, muốn nằm ngủ thì phải trải chiếu trên băng tuyết.
Ðoàn lữ hành của Ngài phải đi trong bảy ngày bảy đêm
mới ra khỏi dãy núi ấy. Ðoàn người đi hộ tống Ngài, có
kẻ không chịu nổi khổ sở, nửa đường đã bỏ trốn
về, có người chết rét ở giữa núi; lừa và ngựa lại càng
chết nhiều hơn. Kiểm điểm lại, chỉ còn mấy người theo
Ngài.
Ra khỏi Lăng Sơn, Ngài
theo dòng sông Cáp Lạp Thập, vượt qua núi Khách Lạt Côn Luân,
đến một cái hồ lớn gọi là Nhiệt Hải (tức là Issik-kol,
thuộc Liên Xô cũ). Hồ này được gọi tên như thế, vì tương
đối ít lạnh hơn các vùng lân cận và không bao giờ có băng
giá. Hồ rộng, chu vi có trên ngàn dặm, xung quanh bao bọc toàn
núi, có nhiều sông, suối, đổ vào. Nước mặn và màu xanh
đen. Nước chảy xoáy và luôn luôn rạt rào sóng cả. Ngài
Huyền Trang đi theo bờ hồ về phía Tây bắc độ 500 dặm, đến
thành Tô Ðiệp (Tokmak, thuộc Liên Xô cũ). Ngài gặp Ðại vương
nước Ðột Quyết là Diệp Hộ đang đi săn ở đấy. Diệp
Hộ là một Ðại vương (Khan) có rất nhiều uy quyền và
nhiều chư hầu trong vùng Trung Á này. Chính Khúc Văn Thái đã
ân cần dâng thư giới thiệu Ngài Huyền Trang với Diệp Hộ.
Khi Ngài Huyền Trang đến
thì gặp Diệp Hộ đang cùng triều thần cưỡi ngựa đi săn
về. Vị vua này, đầu quấn khăn lụa, để thòng hai giải dài
ra sau, mặc áo choàng bằng sa tanh xanh, oai phong lẫm liệt
ngồi trên ngựa, quanh mình có trên 200 dũng tướng theo hầu.
Những người này để tóc búi, mặc áo choàng bằng gấm.
Theo sau là quân lính cưỡi ngựa, hoặc lạc đà, mặc áo
bằng lông thú hay bằng nỉ, mang giáo mác, cung, tên, đi thành
đoàn dài tưởng không bao giờ hết.
Diệp Hộ sau khi được
giới thiệu của Khúc Văn Thái, mời Ngài Huyền Trang về
doanh trại của mình ở Tô Ðiệp.Vua ở trong một cái lều
bằng nỉ rất lớn, có kết hoa bằng vàng. Vua ngồi ở giữa
và trong cùng, trước mặt là hai hàng dũng tướng, ngồi xếp
bằng trên những chiếc chiếu; sau lưng các vị tướng này là
hai hàng ngự lâm quân, khí giới sáng lòa, nghiêm chỉnh đứng
hầu.
Vua thiết tiệc khoản đãi
Ngài Huyền Trang và các sứ giả của vua Cao Xương. Chỉ riêng
Ngài Huyền Trang được ngồi trên một chiếc ghế bành có
tay dựa, còn những sứ giả khác thì ngồi chung với các tướng
lĩnh. Rượu và những khúc thịt cừu và bê thui được đặt
chồng chất trước mặt các tân khách. Riêng Ngài Huyền Trang
thì vua truyền dọn những thức chay, như bánh bột gạo,
sữa, đường, mật ong, nho. Trong lúc ăn, có ca nhạc.
Sau buổi tiệc, vua kính
cẩn thỉnh Ngài Huyền Trang giảng cho một thời Phật pháp.
Ngài giảng về thuyết Từ bi và những phương pháp tu hành để
được giải thoát và giác ngộ.
Nghe xong, vua đứng dậy,
đảnh lễ Ngài và với vẻ mặt hoan hỷ, cam kết xin thọ lãnh
những lời Ngài dạy. Nhưng cũng như vua Khúc Văn Thái nước
Cao Xương, vua Diệp Hộ cũng yêu cầu Ngài đừng tiếp tục
cuộc hành trình sang Tây Trúc nữa. Ông nói:
–Bạch Pháp sư, đệ
tử khuyên Ngài đừng sang Tây Trúc nữa, xứ ấy mùa đông cũng
như mùa hạ khí hậu quá nóng bức. Ðệ tử sợ rằng Pháp sư
sang đến đấy thì mặt mũi Ngài sẽ tan ra nước mất. Dân cư
ở đấy đen đúa và phần nhiều trần truồng như nhộng, không
biết lễ nghĩa là gì. Thật không đáng cho Ngài phải mệt
sức đi đến xứ ấy.
Ngài Huyền Trang trả
lời một cách nhẹ nhàng:
–Tâu Ðại vương, bần
tăng chỉ muốn sang đấy để mưu tầm giáo lý và thỉnh kinh
Phật, chứ không có mục đích gì khác. Bần tăng nóng lòng
muốn đi tìm dấu vết của đức Bổn Sư, xin Ðại vương hãy
cho bần tăng được như nguyện.
Vua Diệp Hộ không cản
trở nữa, và sai quan biên thư gửi gắm Ngài với các nước
chư hầu mà Ngài sắp đi qua, và cho người thông ngôn đi theo
Ngài nữa.
Ngài Huyền Trang từ tạ
vua Diệp Hộ ra đi không ngờ lần ấy cũng là lần vĩnh
biệt, vì mấy tháng sau, vua Diệp Hộ bị mưu sát, và nước
Ðột Quyết hùng mạnh bị chia phân thành nhiều mãnh.
Từ giã nước Ðột
Quyết, Ngài đi tiếp sang phía Tây, đến Thiên Toàn (Binggol) là
một xứ phì nhiêu, ba mặt đều là đồng bằng, chỉ phía
nam là giáp giới với núi Tuyết. Ở đây có đến nghìn
suối nước (nên mới gọi là Thiên Toàn), khí hậu điều hòa,
đến mùa xuân, cây cỏ đơm hoa, toàn xứ trông như một bức
gấm dệt đủ màu; vua chúa trong vùng này thường ngự đến
đây nghỉ mát. Hươu nai ở đây rất nhiều và được thảnh
thơi rong chơi, vì vua đã có sắc lệnh cấm dân chúng giết
hại chúng, ai trái lệnh sẽ bị xử tử.
Ngài đi tiếp đến nước
Chữ Thì (Tản Mã Nhĩ Hàn hay Samarcand thuộc Liên Xô cũ). Dân
nước này khi theo đạo Phật, khi theo đạo thờ lửa. Lúc Ngài
mới vào nước, một số dân chúng nắm những thanh củi đỏ
đuổi theo Ngài. Vua cũng tiếp Ngài một cách lạnh nhạt. Nhưng
ngày hôm sau, Ngài Huyền Trang xin phép giảng một thời kinh, và
sau khi nghe, vua bỗng đổi thái độ, tỏ ra rất niềm nở đối
với Ngài, và truyền bắt những kẻ đã nắm lửa đuổi theo
Ngài hôm trước đem ra chặt tay chân. Nhưng Ngài Huyền Trang,
động lòng từ bi, xin vua giảm tội, bằng cách đánh mỗi người
mấy trượng thôi. Sau vụ trừng phạt ấy, dân chúng đủ các
hạng, vừa sợ vừa cảm phục lòng đại độ của Ngài
Huyền Trang, đến xin quy y với Ngài rất nhiều. Ngài liền
triệu tập một hội nghị các tăng già, sắp đặt lại ngôi
thứ trong Giáo hội và chấn chỉnh lại những ngôi chùa đã
bị ngoại đạo xâm chiếm.
Từ giã nước này, Ngài
đi về phía Nam, trên 300 dặm đường núi non hiểm trở. Dọc
đường không thấy có nước và cây cỏ. Từ đây con đường
mỗi lúc một tăng thêm khó khăn, nguy hiểm, vì là sắp đến
gần dãy núi đồ sộ và cao nhất thế giới là Hy Mã Lạp Sơn.
Trước tiên, Ngài phải
vượt nốt cái đoạn đường khó khăn của dãy núi Ba Ðạt
Khắc là đèo Thiết Môn. Hai bên là vách đá thẳng vút, cao
đến nghìn trượng, giữa chỉ có một lối đi nhỏ hẹp
quanh co, hiểm hóc. Nếu vô ý trật chân, là rơi xuống hố sâu
và thân hình nát như cám. Sắc đá đen xanh như sắt; ở lối
đi vào hang núi ấy có một cái cửa có hai cánh bằng sắt,
ở phía trên cửa có treo nhiều chuông nhỏ. Ra khỏi núi này,
là đến nước Thổ Hòa La (địa giới nước Apganixtan ngày
nay). Ðáng lẽ đi thẳng về phía Nam để sang Ấn Ðộ, Ngài
rẽ về phía nước Tát Già Thì (thuộc xứ Batriane, nước
Apganixtan). Ngài muốn đến thăm vị vua nước này, là con
ruột của vua Diệp Hộ nước Ðột Quyết và là con rể của
vua Khúc Văn Thái, nước Cao Xương. Ngài đem tin tức và thư
từ của hai vị vua này đến cho tiểu vương Tất Gìa Thì Nhưng,
khi Ngài đến đây thì nội biến trong hoàng cung đang xảy ra.
Nguyên là bà vợ của vị vua này tức là con gái của vua Cao
Xương, vừa mất thì vị tiểu vương này liền lấy một người
vợ kế. Bà sau này trước kia là tình nhân của vị hoàng
tử con bà vợ trước, vì thế bà sau này đã âm mưu giết
vua và đặt hoàng tử, tình nhân của mình lên ngôi. Vị
tiểu vương mới này cũng rất hậu đãi Ngài Huyền Trang. Vua
mời Ngài đi đến thành Tiểu Vương Xá là một nơi có rất
nhiều di tích Phật giáo. Thành này bây giờ đã hoang phế điêu
tàn. Nhưng trong thời gian Ngài Huyền Trang đi qua, thì đây là
một thành phố phồn thịnh có trên một trăm tịnh xá, chứa
gần ba ngàn tăng đồ thuộc phái Tiểu thừa. Trong các chùa có
rất nhiều di tích của đức Phật Thích Ca. Trong số các vị
sư ở đây có nhiều người rất tinh thông giáo lý Tiểu
thừa. Chính ở tại đây, Ngài Huyền Trang đã học hỏi được
rất nhiều về những bộ kinh chính yếu của giáo phái này.
Ở đây, Ngài gặp được
một vị sư trẻ tuổi và thông thái là Tuệ Tịnh người nước
Thổ Hòa La. Vị này tôn Ngài làm sư phụ và tình nguyện cùng
đi theo Ngài sang Aán Ðộ. Ðây cũng là mọt điều may mắn
cho Ngài, vì Ngài sắp vượt qua Hy Mã Lạp Sơn mà những người
theo hộ tống Ngài từ nước Ðột Quyết thì đã quay về
hết cả rồi.
Hai thầy trò đi về phía
đông nam, trèo lên dãy Tuyết Sơn. Con đường núi này thật
muôn ngàn hiểm trở hơn tất cả những đoạn đã đi qua. Núi
luôn luôn có tuyết phủ, vì thế nên người Trung Hoa gọi là
Tuyết Sơn. Sương tuyết phủ mờ tất cả, người ta có cảm
tưởng đi trong trăng mờ; thỉnh thoảng may ra mới có được
một khoảng bằng phẳng độ 4, 5 thước vuông. Núi lởm
chởm nằm ngang lưng trời, mất hút trong mây. Lạnh thấm đến
cốt tủy. Hai người đi như thế trên 2.000 dặm, chịu đựng
biết bao gian khổ mới đến được Ba-mi-dăng (Bamiyan) là
một xứ nằm cheo leo trên đỉnh núi, giữa con đường đi qua
Hy Mã Lạp Sơn. Xứ này cũng theo Phật giáo Tiểu thừa, có độ
mười ngôi chùa và mấy ngàn tăng đồ.
Ðến đây, Tuệ Tịnh người
đệ tử mới của Ngài bị vua nước Thổ Hòa La cho người
đến thỉnh về. Tuệ Tịnh đành phải luyến tiếc từ giã
Ngài trở lui.
Từ đây, Ngài chỉ một
mình tiếp tục cuộc hành trình qua núi Tuyết, đi 600 dặm
về phía đông nam, có một lần Ngài bị lạc trong núi, may
nhờ có những người đi săn đưa Ngài ra đường chính. Sau
khi vượt qua Tuyết Sơn, Ngài bắt đầu đặt chân lên Hắc Lĩnh,
tức là những ngọn núi về phía nam Hy Mã Lạp Sơn, sát biên
giới Bắc Ấn Ðộ. Người ta gọi là Hắc Lĩnh vì đến mùa
hạ, tuyết ở trên các ngọn núi này tan ra, để lộ màu đen
của đá, trái với Tuyết Sơn là những ngọn núi cao luôn có
tuyết đóng ở phía Bắc dãy Hy Mã Lạp Sơn sau khi vượt qua.
Hắc Lĩnh, Ngài đặt chân vào địa đầu biên giới Bắc Aán
Ðộ.
Kể ra từ Cao Xương đến
đây, Ngài Huyền Trang đã đi qua 24 nước lớn nhỏ ở Trung
Á, giữa hai biên giới Trung Hoa và Ấn Ðộ; và đã vượt qua
dãy núi cao nhất thế giới là Hy Mã Lạp Sơn.
-oOo-
|
|