Sự tích
Tu Đà Cấp Cô Độc


SUDATTANĀTHAPIŅDIKA
Anh ngữ: HELLMUTH HECKER
Dịch giả: Nguyễn Điều (1993)


 

trở về Kinh Sách

Lời nói đầu
 Cấp Cô Độc

* Lời nói đầu
* Chương 1

* Chương 2
* Chương 3
* Chương 4
* Chương 5
* Chương 6

Ư tưởng đẹp

 

"Tu Đà Cấp Cô Độc" là tập sách thứ năm trong loạt phiên dịch ra Việt ngữ sử tích các Đại đệ tử Phật.

Khi đề cập đến ba chữ "Đại Đệ Tử", người ta thường nghĩ ngay tới những đại Thánh Tăng đă đắc quả cao nhất, và lỗi lạc nhất trong các hàng Thinh Văn đệ tử Phật. Nhưng ít ai để ư t́m hiểu rằng: Trong số những Đại đệ tử ấy, đă có hai vị cư sĩ, một nam một nữ, rất nổi tiếng, tên là Tu Đà Cấp Cô Độc (SudattAnàthapindika), và Nguyệt Trang Đài (Visàkhà) - Tức là đức hạnh của người Đại Tín nữ này có thể ví như một ṭa lâu đài, chứa đầy ánh sáng dịu hiền, chẳng khác nào ánh sáng tươi mát vô tận của một đêm trăng rằm không mây!

Hiện tại, chúng tôi chỉ xin gởi đến quí vị sử tích của đại Thiện nam Tu Đà Cấp Cô Độc (SudattAnàthapindika). C̣n câu chuyện đáng quí của đại Tín nữ Nguyệt Trang Đài (Visàkhà). hay gọi tắt là "Nguyệt Trang" ra sao, nếu hữu duyên, dịch giả sẽ sưu tập, kính tặng chư đạo hữu sau! Xin xem chú thích về sự thoát dịch danh từ VISÀKHÀ ở cuối chương sách này (1).

Tu Đà Cấp Cô Độc là một vị đại Thiện nam đă có công xây dựng ngôi tu viện đầu tiên Tổ đ́nh lớn nhất của Phật giáo, ở Trung Ấn Độ, thời đức Phật c̣n tại thế. Ông là một tấm gương cực sáng trong hạnh "BỐ THÍ ĐỂ THANH TỊNH THANH TỊNH ĐỂ BỐ THÍ" mà đấng Giải Thoát hằng khen ngợi! Một hiền nhân như vậy quả rất xứng đáng cho hậu thế ngưỡng mộ, và ghi tên ông vào sử sách! Quả lành cao thượng nhất của cuộc đời ông, chính là măn kiếp chót ông đă được siêu thoát!

Toàn thể Phật tử chúng ta ngày hôm nay, khi tưởng nhớ đến Thánh Tu Đà Cấp Cô Độc, nếu không phải để noi gương đại hạnh giải thoát, th́ chẳng c̣n một mục đích nào quí báu hơn!

Dù cố gắng, nhưng bản dịch này chắc cũng c̣n khuyết điểm, dịch giả ngưỡng mong chư vị thông hiểu đạo Phật bổ túc cho. Chúng tôi xin chân thành cảm tạ!

Nguyện chia đều phần phước phiên dịch này đến tất cả chúng sanh và những Thiện nam tín nữ hữu duyên đă trực tiếp hay gián tiếp ủng hộ dịch giả trong công tác sưu tầm tài liệu và hùn phước ấn tống!

Dịch giả cũng không quên hồi hướng một phần phước báu đến song đấng sinh thành, và các ân nhân, Thầy Tổ của dịch giả.

Nguyện cầu cho dân tộc Việt Nam sớm thoát khỏi cảnh khổ, và chúng sanh nhân loại đừng oan trái lẫn nhau!

Nguyễn Điều
(Paris mùa Vu Lan 1993)

-ooOoo-

Chú Thích trong Lời Nói Đầu

(1) Theo học giả Hellmuth Hecker th́ chữ "Visàkhà" có nghĩa là "Nét đẹp tháng năm". Nhưng theo thiển ư của người dịch tập sách nhỏ này, th́ từ ngữ "Visàkhà" khi dùng đặt tên người có thể trùng nghĩa với danh từ Vesàkhà, một đơn vị thời gian nằm giữa hai tháng: tháng tư và tháng năm Dương lịch. Các quốc gia theo hệ thống Phật giáo Nam-truyền như Ai Lao, Cao Miên, Thái lan, Miến Điện, Ấn Độ, Népal, Tích Lan v.v.. Thường gọi tháng tư âm lịch là tháng Vesaka. Vầng trăng rằm của tháng Vesaka này tuyệt đẹp, v́ trong khoảng thời gian ấy, bầu trời rất trong, khí hậu rất ấm. Vả lại, ba ngày lễ lớn của Phật giáo là lễ Bồ Tát Đản Sinh, Bồ Tát Thành Đạo và Phật Nhập Niết bàn cũng trùng vào ngày rằm tháng Vesaka (hay tháng tư âm lịch) này. Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam c̣n gọi ngày rằm tháng tư là lễ "Tam Hợp".

Bởi các lư do trên, dịch giả xin mạn phép dịch tên Visàkhà thành "Nguyệt Trang Đài" để diễn tả đức hạnh của người nữ đại ân nhân của Tăng Già thời Phật c̣n tại thế.

Ngoài ra, theo sách "Pàli English" của T.W Rhys Davids và William Stede, do Pàli Text Society, Luân Đôn xuất bản th́ từ ngữ "Visàkhà" là một danh từ nữ tính, gồm hai phần "Vi" và "Sàkhà".

- "VI" là một tiếp đầu ngữ có nghĩa là "có hai", "tái mọc ra lại" "tái phân phối", "c̣n sinh ra nữa" v.v...

- "SÀKHÀ" là một ngữ căn nữ tính có nghĩa là "vật nhiều chi nhánh" hay "cành lá sum suê". "Sàkhà" cũng ám chỉ người đàn bà có mái tóc đẹp, hay mỹ nhân đeo nhiều nữ trang. C̣n đối với động vật hay thực vật, chữ "Sàkhà" nghĩa là có khả năng thay vỏ, thay lá để làm trẻ trở lại.

(Nguyễn Điều sưu tầm)

-ooOoo-

Vài câu thơ nói về Thánh nhân

TU ĐÀ CẤP CÔ ĐỘC

"Tâm chánh tín vững vàng không lay chuyển
Hàng Thánh nhân thanh tịnh giữa cuộc đời
Nghèo chẳng buồn, sang cũng thản nhiên thôi
Trong suy thịnh, chứa đầy duyên phúc, đức...
Cấp Cô Độc, một hiền nhân Hộ pháp!"

-ooOoo-

TU ĐÀ CẤP CÔ ĐỘC - MỘT ĐẠI TÍN THÍ

Rất nhiều bài pháp của đức Phật được kết tập trong Tam tạng giáo lư (Tipitaka) đă mở đầu bằng kinh văn sau đây:

"Ta được nghe như vầy! Một thuở nọ, đức Thế Tôn ngự tại Kỳ Viên tịnh xá của bá hộ Cấp Cô Độc hiến dâng, trong vườn Thái tử Kỳ Đà (Jeta), gần thành Xá Vệ (Sàvatth́)..."

Lời mở đầu đó hiển nhiên đă giới thiệu cái tên Cấp Cô Độc (Anàthapindika) - giới thiệu một cách long trọng và sâu rộng trong hàng tứ chúng. Nhất là các hàng tứ chúng sau này, khi đức Phật đă nhập diệt!

(Tứ chúng là bốn hạng tín đồ Phật giáo, gồm: Thiện nam (Upàsaka), Tín nữ (Upàsikà), Tỳ Khưu (Bhikkhu), và Tỳ Khưu Ni (Bhikkhuń).

"Cấp Cô Độc" (Anàthapindika) vốn là một danh hiệu ám chỉ một "Mạnh Thường Quân" hằng phân phát thực phẩm đến dân nghèo (Piịđa), thường là những dân nghèo hành khất, không được ai che chở (Anàtha), nên đă trở thành một "Tước vị" danh dự cho ḍng họ Trưởng giả Tu Đà (Sudatta) của thành phố Xá Vệ (Sàvatth́).

- Vậy Tu Đà Cấp Cô Độc là ai?

- Ông đă gặp đức Phật trong trường hợp nào?

- Ông đă chứng nghiệm được Pháp bảo ǵ mà trở nên một đại hiền nhân như thế?

Để trả lời cho các câu hỏi trên đây, chúng ta thử tra cứu những điển tích ghi trong Tam tạng Pháp bảo của đức Phật để lại.

Theo học giả HELLMUTH HECKER th́ cuộc đời đại thiện của ông bá hộ Tu Đà Cấp Cô Độc (SudattAnàthapindika) có thể được tŕnh bày thành sáu tiểu đề như sau:

I. Tu Đà Cấp Cô Độc gặp Phật và trở thành môn đồ.
II. Tu Đà Cấp Cô Độc một đại Hộ pháp.
III. Gia quyến Tu Đà Cấp Cô Độc.
IV. Tu Đà Cấp Cô Độc tiếp độ gia nhân và thân hữu.
V. Những bài pháp Phật thuyết cho Tu Đà Cấp Cô Độc.
VI. Đoạn chót cuộc đời.

-ooOoo-

 

 

Webmaster: chuyenvienweb@gdptvnac.net