|
Sự
tích SUDATTANĀTHAPIŅDIKA |
| Chương 5 | ||
| Cấp
Cô Độc
* Lời
nói đầu
|
NHỮNG BÀI PHÁP PHẬT THUYẾT CHO TU ĐÀ CẤP CÔ ĐỘC Trong bốn mươi lăm năm trường hoằng dương chánh pháp, đức Phật đă nhập hạ mười chín lần ở thành Xá Vệ, tại chùa Kỳ Viên, do Tu Đà Cấp Cô Độc tạo lập, thuộc tư thổ của Thái tử Kỳ Đà (Jeta). Mỗi khi Phật nhập hạ (tức ở yên một chỗ tinh tấn hành thiền suốt ba tháng mùa mưa) như thế, th́ Tu Đà Cấp Cô Độc hằng ngày đến thăm Phật hai lần. Mục đích chính của ông là chỉ để thấy mặt đức Bổn Sư, nhưng nếu thuận duyên, cũng được nghe pháp. V́ vậy, Tu Đà Cấp Cô Độc thường do dự lúc định hỏi đức Phật một vài vấn đề liên quan đến Pháp học. Bởi ông nghĩ rằng: "Ta là đại thí chủ của Giáo hội, ta không nên gây cảm tưởng nơi Tăng chúng hiểu lầm việc bố thí cúng dường của ta, là để đổi lấy những bài Pháp quí báu của đức Phật!". Đối với Tu Đà Cấp Cô Độc, sự cúng dường bắt nguồn từ thiện tâm, từ sự thỏa thích trong hành động làm phước, chứ không phải làm phước để được đền bù. Vả chính trong sự thanh tịnh làm phước ấy, niềm hoan hỷ cao thượng hẳn là một đền bù xứng đáng rồi! Ông luôn luôn cố tránh không gây cho Tăng chúng hay đức Phật cảm giác rằng: "Mỗi lần Tu Đà Cấp Cô Độc đến, Phật phải thuyết pháp cho ông nghe" - mà trái lại nếu đức Thế Tôn hay một Đại Sa môn nào đó nói pháp đến ông, là do ḷng từ bi và sự hoan hỷ muốn bố thí pháp của các Ngài! Từ nguyên nhân đó, khi đến hầu Phật, Tu Đà Cấp Cô Độc, sau phần đảnh lễ đức Bổn Sư, luôn luôn yên lặng ngồi sang một bên, trước tiên xem Phật có điều ǵ dạy bảo không. Sau đó nếu đức Thế Tôn chẳng có chi nhắn nhủ th́ ông sẽ tùy cơ hội thuật lại cho đức Phật nghe, những biến đổi thăng trầm trong đời sống của ông, nhất là kể lại các giai thoại tiếp nối với những ǵ đức Phật đă biết. Tu Đà Cấp Cô Độc làm vậy không phải để khoe khoang đời ḿnh, mà để xin đức Phật sự phân tích chính xác, nhận xét sâu xa mỗi hoàn cảnh rồi chấp thuận hay phê b́nh hạnh kiểm của ông. Nhiều khi ấy cũng chính là phần gợi đầu cho một bài pháp Phật sẽ thuyết. Kết quả có rất nhiều những thiện hạnh trong đời sống của ông đă làm căn bản nội dung những bài pháp Phật đă thuyết. Do đó, nhiều lời dạy của đức Phật dành riêng cho Tu Đà Cấp Cô Độc lại trở thành "pháp số" khá phổ thông trong giáo lư giải thoát, nhất là giáo lư hướng dẫn sự trau giồi đức hạnh của người cư sĩ. Tất cả những lời dạy ấy khi hợp lại có thể xem như một bộ luật áp dụng trong lănh vực cải thiện tư tưởng của các hàng Phật tử tại gia. Nếu xét trên khía cạnh này, th́ Cấp Cô Độc không chỉ là một đại ân nhân của giáo hội khi đức Phật c̣n tại tiền, mà ông là một người có công làm sung túc Pháp học cho các thế hệ cư sĩ về sau nữa! Những Pháp học ấy nằm rải rác trong toàn bộ kinh Tăng Chi A Hàm (Anguttara Nikàya - Quí vị nào cần tham khảo đầy đủ, hăy t́m đọc "The discourse collection in numerical order" (Pháp Số tuyển tập) của Nyanaponika, do The Wheel xuất bản: phần I các số 153, 155. Phần II các số 208, 211 và phần III các số 238, 240.) trải dài từ các phúc ngôn đơn giản nhất cho đến những giáo lư sâu xa nhất. Sau đây, chúng tôi chỉ xin trích một số ít tượng trưng những phúc ngôn căn bản dành riêng cho các giới cư sĩ: - Này các con! Người Phật tử tại gia cao thượng, khi đă thấm nhuần Pháp bảo, hằng ngày sẵn sàng hộ tŕ khung cảnh sống đạo, chăm sóc bốn thứ gieo trồng. V́ nhờ đó họ sẽ có danh thơm, sẽ có trú sở trong kiếp sau trên thiên cảnh! Vậy bốn thứ gieo trồng ấy là ǵ?". - Này các con! Bốn thứ gieo trồng ấy là vật thực, y phục, chỗ ở và thuốc trị bệnh. Bốn thứ này, các con nên thường xuyên dâng cúng cho chư Tăng tṛn đủ giới hạnh, v́ các Ngài là phước điền của chúng sanh vậy!" (Theo Anguttara Nikàya IV. 60: Tăng Chi A Hàm IV. 60). Một chỗ khác, Phật nói: - Này các con! Có bốn loại hạnh phúc mà người cư sĩ có thể đạt tới là "hạnh phúc được làm chủ", "hạnh phúc có nhiều của cải", "hạnh phúc không thiếu nợ kẻ khác", và "hạnh phúc không bị ai chê cười". Rồi Phật giảng giải:
Trên đây là bài "Pháp số bốn" (tức các pháp có bốn chi). C̣n "Pháp số năm" (Pháp có năm chi) th́ xin trích như sau: Phật nói: - Này các hàng Phật tử tại gia! Có năm điều mà người đời hằng ao ước được có, hằng thích gần gũi và hằng t́m cách để kiến tạo cho ḿnh là: sống lâu, sắc đẹp, an vui, danh tiếng và thượng sinh lên cơi trời. Nhưng này các hàng Phật tử tại gia! Như Lai không dạy cho các con đêm ngày đốt nhang cầu khẩn hay nguyện ước để được năm hạnh phúc đó, v́ ấy là hành động mê tín và làm chuyện vô ích. Hàng Phật tử tại gia cao thượng là những người biết rơ thế nào là mê tín dị đoan, không tin tưởng và thỏa thích trong những h́nh thức tế lễ thần linh, cầu khẩn nơi tha lực. Ngược lại, họ lúc nào cũng tự tin, thanh tịnh và sống đúng theo Bát Chánh Đạo. Rồi tuổi thọ của họ nhờ đó sẽ gia tăng, gia tăng đến vô lượng. Tương tự như vậy, đối với bốn điều ao ước c̣n lại, người Phật tử sống trong chánh kiến cũng không tin vào Thượng đế hay Thần linh có thể ban cho ḿnh sắc đẹp, sự an vui, danh tiếng, hay đưa ḿnh lên cơi trời. Họ chỉ hằng ngày sống đúng theo Bát Chánh Đạo. Rồi sắc đẹp của họ sẽ gia tăng, hạnh phúc của họ sẽ lâu dài, danh thơm của họ sẽ loang rộng, và hết kiếp, họ sẽ được sinh lên nhàn cảnh cao hơn (Theo Anguttara Nikàya V. 43: Tăng Chi A Hàm số V. 43). Trong một bài "Pháp năm chi" khác, đức Phật đă nói: - Này các hàng Phật tử tại gia! Có năm cơ duyên để cho một người giàu có, có thể duy tŕ được hạnh phúc là:
Năm cơ duyên nói trên hằng nghiệm đúng cả hai phương diện: Vật chất và tinh thần! V́ những người cư sĩ sống đạo chân chánh, biết và thực hành đầy đủ năm cách đối xử đúng phép ấy, rồi bởi dư nghiệp tiền kiếp, họ có thể trở thành nghèo khổ, mất hết của cải, họ cũng c̣n cái hạnh phúc chánh tín trong tâm, suy nghĩ rằng: "Thăng trầm vật chất trên cuộc đời vốn nằm trong lẽ vô thường! Nhưng ta vẫn toại nguyện, v́ đă sống đúng theo pháp lành!". Rồi tâm tư họ b́nh thản! Ngược lại, ví thử người cư sĩ sống đạo chân chánh ấy, nhờ thực hành đầy đủ năm cách đối xử cao thượng mà trở nên phát đạt, giàu có hơn trước gấp bội đi nữa, th́ họ cũng không mất cái chánh tín, thanh tịnh trong tâm. Họ tư duy rằng: "Ta nhờ hưởng quả giàu sang do thiện nhân đă gieo trồng trong kiếp trước mà hiện tại tạo được nghiệp lành, đối xử đầy đủ với năm cơ duyên duy tŕ hạnh phúc! Và ta đă gặt hái được trái tốt ngay trong kiếp này là một điều nghiệm đúng chân lư! Ta không nên v́ vậy mà trở nên dễ duôi, chểnh mảng trong việc trau giồi đức hạnh!". Nghĩa là trong hai trường hợp "thăng trầm" người cư sĩ có chánh tín không bị vật chất lung lạc tâm hồn! (Theo Anguttara Nikàya V. 41: Tăng Chi A Hàm số V. 41). Điểm quan trọng cần được nhắc lại ở đây là xuyên qua một "Pháp số bốn" khác, trong tạng kinh, đức Phật, nhân một cơ hội nói pháp đến các hàng trưởng giả, thân hữu của Tu Đà Cấp Cô Độc, Ngài đă nhấn mạnh với người tạo lập ra ngôi chùa Kỳ Viên rằng: - Này đại cư sĩ Tu Đà Cấp Cô Độc! Bốn phúc đức mà người đời cho là quí báu, đáng ao ước, hân hạnh và khó t́m là:
- Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Muốn tạo duyên đưa đến quả lành, thụ hưởng bốn phước báo vừa nêu trên, ông hăy gieo trồng bốn thiện nhân. - Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Vậy bốn thiện nhân đó là ǵ? Là hoàn toàn trong niềm tin, hoàn toàn trong giới đức, hoàn toàn trong bố thí, và hoàn toàn trong trí tuệ (Theo Anguttara Nikàya IV. 61: Tăng Chi A Hàm số IV. 61). Vả lại, niềm tin chân chánh chỉ có thể đạt tới khi chúng ta may mắn gặp được một đấng Toàn Giác, ngưỡng mộ Ngài và hiểu thấu chân lư trong phúc âm của Ngài! Nhất là phải nhận thức rơ bản chất của mọi vật hiện hữu trong phúc âm đó! Một Phật tử muốn viên tṛn giới đức, phải ǵn giữ đầy đủ tối thiểu năm giới cấm, xem ấy như "luân lư căn bản" trong cuộc đời. Và hạnh bố thí cũng là một thiện pháp khác, có khả năng dũa ṃn tính tham lam, keo kiệt, một thứ ác pháp hằng làm chật hẹp tâm tính! Người đạt được trí tuệ giải thoát là người thấy rơ rằng: Ai tâm hồn c̣n bị ô nhiễm bởi những tham luyến, ác ư, chán nản, khích động, quên ḿnh và nghi kỵ, th́ kẻ ấy sẽ thường xuyên làm những nghiệp trần không đáng làm, và ngược lại sẽ bỏ qua các cơ hội thực hiện nhiều thiện nghiệp! Chưa kể người quen làm tội, th́ lơ là việc lành, rồi kết quả nhăn tiền là họ sẽ mất dần "uy tín" và tiêu hao tiền bạc! Nhưng bậc có thiện hạnh khác hẳn. Họ luôn luôn thanh tịnh ǵn giữ con tâm, quan sát những động cơ thúc đẩy họ tạo tác, để lúc nào họ cũng sẵn sàng loại bỏ những chướng ngại phiền năo(Chướng ngại phiền năo có năm là: 1/ tham lam, 2/ ác tâm, 3/ lười biếng cộng hôn trầm, 4/ băn khoăn cộng lo âu, 5/ nghi kỵ. Muốn biết thêm hăy đọc cuốn "The Five Mental Hindrances" (Năm chướng ngại nội tâm) của Nyànaponika. The Wheel xuất bản số 26. ) ŕnh chờ đẩy họ vào ác nghiệp! Và kết quả của sự cảnh giác đó, là đạt được trí tuệ vậy! Người Phật tử sống đạo chân chánh, do nhờ trau giồi niềm tin, giới đức, bố thí và trí tuệ, mà thừa hưởng bốn điều hạnh phúc là giàu sang, danh thơm, sống lâu, và tái sinh thiên cảnh. Rồi họ cũng không chểnh mảng vui chơi, lại sử dụng những phúc lành ấy để không ngừng tạo thêm thiện nghiệp, th́ họ không những đă làm cho bản thân, gia đ́nh ḿnh hạnh phúc, mà họ c̣n làm cho bạn bè, xă hội được an vui lây. Tai nạn xung đột giữa con người với con người họ hằng tránh khỏi, để thường xuyên hành động theo "năm cách đối xử đúng phép" như đă nói trên. Nhất là sự đối xử đúng phép với các bậc chân tu, phạm hạnh. Trái lại, kẻ nào giàu có mà không biết sử dụng tài sản của ḿnh để gieo trồng nhân lành đẻ ra bốn "quả hạnh phúc" ấy, th́ gọi là người sống không có mục đích, phung phí sự giàu sang của ḿnh một cách vô nghĩa. (Theo Anguttara Nikàya IV. 61: Tăng Chi A Hàm số IV. 61). Một dịp khác, đức Phật cũng giảng giải và phân loại về các cách tạo và sử dụng tài sản khác nhau, trong một bài pháp có tựa là "Mười hạng người tạo và sử dụng của cải". Phật nói:
Trong Tăng Chi A Hàm có một đoạn đức Phật hỏi Tu Đà Cấp Cô Độc xem người nhà ông đă chuẩn bị thực phẩm "chu đáo" chưa? Câu này hẳn phải làm cho người đọc cảm thấy có cái ǵ là lạ, v́ một vị Phật hiếm khi đặt một câu hỏi ṭ ṃ, "tầm thường" như vậy! Nhưng theo chú giải th́ câu nói đó ám chỉ "sự kính trọng" nơi vật thí. Hai chữ "chu đáo" có nghĩa là "một cách kính trọng", v́ đức Phật thừa biết rằng Tu Đà Cấp Cô Độc luôn luôn cúng dường đến chư Tăng và bố thí đến dân nghèo một cách đầy đủ, rộng răi, song Ngài vẫn e ngại, biết đâu gia nhân thay mặt ông làm việc đó, có thể tỏ ra thiếu kính trọng, khi trao thực phẩm đến người nhận. Từ đó, một vấn đề được nêu ra là thái độ dâng cúng hay bố thí có được lễ phép hay không?! Đức Phật phân tích: - Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Khi một người hiến dâng hay cho một món ǵ đến kẻ khác, th́ phước báu của việc làm ấy không xác định trên giá trị của vật dụng, mà xác định trên tâm thành của người thực hành thiện nghiệp. Ví thử người chỉ tặng một món ăn tầm thường với ḷng thành kính th́ phước báu vẫn nhiều hơn là cho một vật quí giá mà tỏ vẻ hời hợt, lấy lệ, nếu không muốn nói là khinh bỉ! Kẻ nào tặng y phục hoặc thực phẩm đến chư Tăng hay dân nghèo mà chỉ "thảy ra đó" hoặc "mời lơi" lấy lệ, chứ thực tế trong ḷng không có niềm tin, không có sự tôn kính, th́ hậu quả của thái độ ấy, kiếp sau người thấy thực phẩm dù ngon đến mấy miệng cũng sẽ không muốn ăn, quần áo tốt hay mới toanh, đáng mặc th́ họ lại mắc cỡ, đi t́m đồ cũ của ḿnh để mặc. C̣n năm giác quan của họ th́ sẽ chậm chạp, không linh động. Chưa kể con cái, kẻ ăn người ở trong nhà sẽ không vâng lời họ v.v... Ai giàu có mà chịu sự bất lành này, là do tiền kiếp đă bố thí một cách không kính trọng vậy. Mặt khác, đức hạnh của người nhận vật thí cũng vô cùng quan trọng! Liên quan đến vấn đề này, đức Phật đă kể cho Tu Đà Cấp Cô Độc nghe câu chuyện tiền kiếp của một người Bà la môn tên là Velàma. Ông Bà la môn này đă đích thân phân phát một cách thành tâm rất nhiều thực phẩm đến một đám đông hành khất, nhưng rất tiếc là trong số ấy, không có lấy một người hành khất có đủ đức hạnh tối thiểu để xứng đáng với tấm ḷng bố thí kia. Do đó, đức Phật kết luận: - Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Sự bố thí bằng ḷng thành dĩ nhiên sẽ luôn luôn đem lại quả lành. Nhưng bố thí đến một trăm người không có giới hạnh, chẳng thể so sánh với sự cúng dường đến chỉ một Sa môn tṛn đủ giới hạnh, nhất là các Thánh nhân kể từ Nhập Lưu trở lên! Riêng sự cúng dường đến các Thánh giải thoát A La Hán, các Bích Chi Phật hay đấng Toàn Giác th́ phước báu vô lượng. Cũng như sự xây chùa, truyền bá chân lư và hộ tŕ Tam bảo th́ phước báu nhiều bằng tổng số hạt bụi hợp thành quả đất. Tuy nhiên, nguồn phước báu vô lậu vẫn là ba ngôi đáng nương nhờ: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Nói một cách dễ hiểu hơn là "qui y Phật, qui y Pháp và qui y Tăng". Đồng thời giữ đúng năm giới cấm là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Rồi hằng ngày, người Phật tử thấm nhuần chánh pháp, cũng không quên dành ra năm mười phút, để rải tâm từ bi đến tất cả chúng sinh. Nhưng cái hành động tạo phước vô lậu cao nhất vẫn là sau khi rải tâm từ bi, hành giả giữ thêm một phút mặc niệm nữa, để quán tưởng đến sự vô thường. V́ theo kinh Tăng Chi A Hàm số IX. 20 (A. IX. 20) nói, th́ "Sự tưởng nhớ đến lẽ vô thường" này dù chỉ kéo dài bằng một cái "búng ngón tay" cũng có nhiều phước báu vô lậu! (Ghi chú: Phước báu vô lậu là phước báu đưa đến phẩm giải thoát, c̣n phước báu hữu lậu là phước báu sẽ trổ quả lành trong các kiếp vị lai. Nhiều khi do hưởng quả lành ấy, mà người ta có thể rơi vào cảnh vướng mắc, bị luân hồi, không thể được giải thoát). Những lời giảng trên đây của đức Phật đến ông Tu Đà Cấp Cô Độc cho chúng ta một phương pháp hành đạo từ thấp lên cao. Ngài sẽ bắt đầu bằng hạnh bố thí để đưa người Phật tử đến tŕnh độ thanh tịnh hơn, mở rộng ḷng từ bi thấu cả muôn loài vạn vật. Khoảng giữa hai phẩm hạnh bố thí và thanh tịnh tâm hồn ấy, là sự giữ ǵn giới luật, một khả năng làm tiêu trừ các gốc rễ xấu xa, ác độc nơi tâm hồn con người. Đồng thời xuyên qua sự vững chắc trong an định, hành giả lại chứng thật được lẽ vô thường, để không bị khổ năo, bởi bất cứ cái ǵ thay đổi, biến, hoại, có, không. Nói một cách khác là ba giai đoạn: Bố thí, Tŕ giới, và Tham thiền là ba nấc thang sẽ đưa người Phật tử đến phẩm hạnh giải thoát, thấy rơ chẳng có ǵ bền vững, chẳng có cái ǵ là của ta, hay là ta cả. Điều cần nhấn mạnh ở đây là ngoài thiền pháp ra không có một phép mầu nào khác, đủ sức tẩy trừ được mọi phiền năo trong tâm tư con người! Sự phân tích của đức Phật về các loại người xứng đáng nhận vật thí c̣n thấy xuất hiện trong một bài pháp ngắn khác. Theo đó, Tu Đà Cấp Cô Độc đă hỏi Phật: - Có bao nhiêu hạng người xứng đáng để đàn na tín thí cúng dường? Đức Phật liền trả lời: - Có hai hạng: Đó là các bậc đang đi trên con đường trong sạch giải thoát, và chư Thánh A La Hán hay chư Phật đă đến đích rồi. (Theo Tăng Chi A Hàm số II. 27: A. II. 27) Trở lại vấn đề thanh tịnh con tâm. Trong những đoạn trước, đức Phật đă giảng giải khá đầy đủ về hai pháp Bố thí và Tŕ giới, nhưng Thiền pháp chỉ được Ngài giới thiệu phớt qua, chưa nêu thí dụ rơ rệt, th́ bây giờ đức Bổn Sư thuyết minh một cách cụ thể hóa. Phật nói với Tu Đà Cấp Cô Độc rằng: - Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Nếu tâm tánh của một người chứa đầy tham vọng th́ tất cả hành động, lời nói và ư nghĩ của họ cũng bị hoen ố! Một người như thế tất bị ái dục cuốn trôi, quay cuồng, và khi hết tuổi thọ, họ sẽ nhận lănh một cái chết vô cùng đen tối, phiền năo... Ví như một ngôi nhà mà những phần ṇng cốt là cột, kèo, đ̣n dông và các bức tường chính đă mục nát trước một cơn thác lũ vậy (Theo Tăng Chi A Hàm số III. 107-108: A. III. 107-108). Khi tâm tánh đă bị tham vọng lôi cuốn và phiền năo che mờ rồi, th́ chỉ có thiền pháp mới đủ sức đem lại thanh tịnh, cứu giúp nó được, chứ các phước báu do nghiệp lành đă tạo, cũng không hiệu quả ǵ! Bởi thế, một lần khác, đức Phật đă dạy Tu Đà Cấp Cô Độc, trước một đám đông thiện nam tín nữ, vừa đến thăm Ngài: - Này Tu Đà Cấp Cô Độc và chư Phật tử! Quí vị hằng ngày thành tâm hộ tŕ ngôi chùa Kỳ Viên, dâng cúng đầy đủ bốn món vật dụng là thực phẩm, y phục, chỗ ở và thuốc men đến chư Tăng... Dĩ nhiên, quí vị rất thỏa thích trong phước lành. Nhưng Như Lai khuyên quí vị không nên quá mắc dính trong các phước lành ấy! Hăy để tâm hướng về thiền pháp, cố gắng tập tành an trụ để được phỉ lạc (Ṕti) trong thiền pháp, nhất là trong khuynh hướng ưa chuộng sự sống ẩn dật, thanh tịnh. (Nguyên chữ Pàli "Ṕtim pavivekam" có nghĩa là phỉ lạc đầu tiên chỉ lóe lên trong ṿng một hay hai giây đồng hồ, sau một thời gian tinh tấn tập sự hành thiền (Jhàna). Khi nghe Phật dạy xong, Trưởng lăo Xá Lợi Phất (Sàriputta) liền tiếp: - Khi Sa môn đệ tử cao thượng của Phật đạt được an trụ phỉ lạc thích sống trong cảnh ẩn dật th́ tránh được năm loại phiền năo (ngũ phiền) hằng có mặt trong tâm là:
Vào một dịp khác, do sự có mặt của Tu Đà Cấp Cô Độc và một nhóm Phật tử, mà đức Phật nói với Trưởng lăo Xá Lợi Phất rằng: - Này Xá Lợi Phất! Người cư sĩ phạm hạnh giữ đúng ngũ giới, thận trọng trong mọi hành động hằng ngày, th́ họ sẽ an định dễ dàng nơi thiền pháp, và sẽ thể hiện được bốn niệm tưởng cao thượng là:
Nhưng dựa vào niềm tin ǵ, người cư sĩ phạm hạnh có thể giữ đúng ngũ giới là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, và có thể thực hiện được bốn niệm tưởng quí báu vừa kể? - Này Xá Lợi Phất! Một cư sĩ phạm hạnh cao thượng nhờ dựa vào niềm tin không lay chuyển nơi đức Phật, nhờ dựa vào niềm tin không lay chuyển nơi đức Pháp, nhờ dựa vào niềm tin không lay chuyển nơi đức Tăng, nhờ dựa vào niềm tin không lay chuyển nơi giới hạnh, một nền tảng giải thoát vững chắc, hằng được các Thánh nhân khen ngợi. V́ giới luật trong sạch không làm cho tâm trí lu mờ, không làm cho tư duy khuyết điểm để dễ bị ảnh hưởng bởi những ác pháp vi tế. Giới luật trong sạch chính là bước đầu giải thoát, hay khởi điểm của an tịnh và phát sinh trí tuệ. Trong ba cơi sinh tử luân hồi, không có hạnh phúc nào quí hơn thực hiện được bốn niệm tưởng quí báu kể trên! Và thiền pháp trong Phật giáo không những chỉ giúp cho hành giả đạt đến các mục đích ấy, mà nó c̣n giúp cho các bậc phạm hạnh thanh lọc sạch tâm hồn một cách dễ dàng không dư sót (Theo Tăng Chi A Hàm số V. 179: Anguttara Nikàya V. 179). Lại một dịp khác, đức Phật giảng giải về sự đắc Thánh quả Nhập Lưu đến Tu Đà Cấp Cô Độc, bằng ba cách khác nhau. Sự dạy đạo này đức Thế Tôn chỉ dành riêng cho ông mà thôi. Phật nói: - Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Khi người cư sĩ phạm hạnh loại trừ hết năm điều sợ sệt và thấm nhuần đủ bốn yếu tố dẫn đến Thánh quả Nhập Lưu, đồng thời nếu hành giả hiểu rơ và nắm vững pháp thiền của ḿnh, th́ họ sẽ tự biết là họ đă bước vào Thánh Lưu, chứ không chờ ai xác nhận! Ngược lại, người thường xuyên phạm năm giới cấm là sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu th́ năm điều tội lỗi này sẽ mang lại cho họ năm sự sợ sệt triền miên cả trong tâm hồn lẫn ở thân xác, không những trọn kiếp này, mà c̣n trong kiếp vị lai. - Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Vả lại, người cư sĩ phạm hạnh, nhờ giữ ngũ giới là cách thứ nhất chấm dứt năm điều tội lỗi, tránh khỏi bốn đường ác đạo, nhờ tin tưởng không lay chuyển vào ba ngôi Phật, Pháp, Tăng là cách thứ hai, tiến vào Thánh quả Nhập Lưu, và nhờ thiền pháp là cách thứ ba duy tŕ được thanh tịnh tuyệt đối để trí tuệ giải thoát phát sinh, giác tánh bừng tỏ, thấy rơ cái ṿng luân hồi của ḿnh có thể bị chặt đứt từ chỗ nào. (Theo Tăng Chi A Hàm số X. 92: Anguttara Nikàya X. 92). Một câu chuyện được ghi lại trong kinh rằng: "Lần nọ, Tu Đà Cấp Cô Độc đến thăm Phật vào buổi sáng tinh sương. Duy cảm thấy quá sớm, nên thay v́ đi vô chùa, ông lại ghé xem cảnh tu viện của những đạo sĩ Bà la môn du phương gần đó. Các đạo sĩ này vốn biết Tu Đà Cấp Cô Độc là đệ tử của Phật, bèn hỏi rằng: - Này bá hộ Cấp Cô Độc! Thầy của ông, đạo sĩ Cồ Đàm (Gotama) kiến thức uyên bác như thế nào?" Tu Đà Cấp Cô Độc trả lời: - Tôi không thể đo lường được sự hiểu biết của đức Bổn Sư. Các đạo sĩ Bà la môn lại hỏi: - Vậy tŕnh độ của Tăng chúng Phật giáo thâm sâu ra sao? Tu Đà Cấp Cô Độc cũng vui vẻ nói: - Tôi không đủ khả năng để bàn luận đến kiến thức của Thánh chúng. Nhưng khi các đạo sĩ du phương Bà la môn hỏi về kiến thức của chính ông, th́ Tu Đà Cấp Cô Độc trầm tĩnh trả lời: - Kính thưa quí vị đạo sĩ! Kiến thức của tôi th́ tôi có thể bày tỏ dễ dàng! Chỉ yêu cầu quí vị là chủ, hăy thuyết giảng kiến thức của quí vị cho tôi nghe trước, c̣n tôi là khách, tôi sẽ tŕnh bày sau. Thế là Tu Đà Cấp Cô Độc được nghe các đạo sĩ du phương Bà la môn, đề cao những định kiến của họ. Đạo sĩ thứ nhất nói: "Linh hồn con người vốn bất diệt". C̣n đạo sĩ thứ hai th́: "Linh hồn không bất diệt". Đạo sĩ thứ ba phát biểu: "Linh hồn con người hữu hạn", khác với đạo sĩ thứ tư cho rằng: "Linh hồn con người vô hạn". Rồi đạo sĩ thứ năm quyết chắc: "Thể xác và linh hồn là một, không phân biệt! Hễ thể xác c̣n là linh hồn c̣n, mà thể xác diệt là linh hồn cũng diệt". (Lời thêm của dịch giả: Đây là thuyết vừa duy vật vừa đoạn kiến). Riêng đạo sĩ thứ sáu lại bảo rằng: "Thể xác và linh hồn là hai thực thể khác nhau. Chỉ có thể xác bị hoại, di chuyển, chứ linh hồn không bị hoại, không di chuyển. Ngoài sáu định kiến ấy ra, c̣n hai nhóm đạo sĩ khác nêu lên hai định kiến trái nghịch nhau là: "Thứ nhất, sau khi viên tịch, linh hồn của Thánh nhân sẽ trở thành trường cửu ở một cơi Cực lạc. Thứ hai, sau khi nhắm mắt, linh hồn của các bậc siêu thoát sẽ tiêu mất!". Bây giờ, đến lượt Tu Đà Cấp Cô Độc, ông nói: - Bất cứ thuyết nào trong các định kiến mà quí đạo sĩ vừa tŕnh bày, cũng đều do quí vị suy tư, đoán ra, hay do nghe người khác nói lại. Trong cả hai trường hợp, do suy tư, hay do người khác nói, những định kiến như thế vốn phát nguồn từ nhiều điều kiện khác nhau, mà bất cứ thuyết lư nào có điều kiện đều chỉ là giai đoạn, tạm thời! Cái ǵ tạm thời, vô thường, vốn là nguyên nhân của bất toại nguyện và khổ năo. Ai tư duy như thế sẽ thất vọng, rồi gục ngă v́ tin tưởng không thật. Sau khi nghe vậy, các đạo sĩ Bà la môn du phương liền yêu cầu Tu Đà Cấp Cô Độc hăy bày tỏ niềm tin tưởng của ông. Tu Đà Cấp Cô Độc nghiêm chỉnh phát biểu: - Vạn pháp vốn bản chất tạm thời, vô thường, và đưa đến khổ năo! Rồi khổ năo cũng không phải thuộc về của ai cả, mà thuộc về pháp thế gian. Kẻ nào cố chấp vào các pháp vô thường, cho là "Cái đó chẳng phải là chính ta, cái này mới là chính ta" hay "Cái đó không phải là của ta, cái này là của ta" v.v... Th́ họ sẽ bị lầm lạc vô tận, và họ sẽ ôm cứng khổ năo làm hành trang. Để t́m cách biện hộ, các đạo sĩ du phương Bà la môn giáo vội bào chữa rằng: - Những điều chúng tôi vừa tŕnh bày là những chân lư cao cả, và niềm tin đó không bao giờ mất trong ḷng. Chúng tôi chỉ diễn tả những ǵ ḿnh nhận thấy là sự thật. Và hơn nữa, chúng tôi c̣n biết nhiều giải pháp diệt khổ. Khi áp dụng bí quyết diệt khổ ấy, chúng tôi sẽ không bị các tư kiến ảnh hưởng v.v... Những đạo sĩ Bà la môn này, tuy ngoài miệng cố gắng biện bác như thế, nhưng trong ḷng vẫn tự biết lúng túng! Cuối cùng, họ cảm thấy không thể thuyết phục được Tu Đà Cấp Cô Độc, nên tất cả ngồi im... Sau đó Tu Đà Cấp Cô Độc lặng lẽ đến thăm Phật. Ông thuật lại cuộc đối thoại vừa qua cho đức Thế Tôn nghe, th́ được đức Bổn Sư khen ngợi: - Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Ông đă nói đúng! Như Lai khuyên ông nên thỉnh thoảng hướng dẫn những người lầm lẫn như thế, đến gần chân lư hơn. Rồi đức Phật phúc chúc đến Tu Đà Cấp Cô Độc, đồng thời thuyết một bài pháp cho riêng một ḿnh ông nghe, để khuyến khích người đại cư sĩ này tiến vững chắc trên con đường đạt tới Thánh quả. Khi Tu Đà Cấp Cô Độc đi rồi, đức Phật bèn thuật chuyện và tuyên bố với Tăng chúng rằng: - Ngay cả một Tỳ khưu sống trong Giáo hội một trăm năm, có khi cũng chưa đủ thấm nhuần giáo lư, để có thể trả lời với các đạo sĩ Bà la môn đúng đắn như thế. (Theo Tăng Chi A Hàm số X. 93: A. X. 93). Sau cùng, c̣n hai thuật sự nữa có thể kể lại, trước khi chuyển qua chương VI. Đó là hai lần Tu Đà Cấp Cô Độc nằm trên giường bệnh, yêu cầu đức Phật cho phép một vị Sa môn đến nhà thuyết pháp "tiếp độ" cho ông. Bởi Tu Đà Cấp Cô Độc là một đại ân nhân của Tăng Già, nên hai vị được đức Phật lần lượt cử đi thuyết pháp là hai Trưởng tông đồ. Lần thứ nhất, Tôn giả A Nan Đà đến ân cần nói với Tu Đà Cấp Cô Độc rằng: - Này đạo hữu Cấp Cô Độc! Một tâm hồn không thuần thục trong chánh niệm hằng sợ sệt sự chết, và sợ sệt những ǵ phải nhận nơi kiếp sau. Lư do v́ họ thiếu bốn loại niềm tin cao quí là: Tin vào Phật bảo, tin vào Pháp bảo, tin vào Tăng bảo, và tin vào Giới đức là hành trang độ mạng trong ṿng luân hồi. "Nhưng này đạo hữu Cấp Cô Độc! Đạo hữu là người đang có niềm tin không lay chuyển nơi đức Phật, đức Pháp, và đức Tăng. Đạo hữu c̣n giữ giới hạnh hoàn toàn trong sạch nữa, th́ đạo quả giải thoát không xa. Nhất là hiện tại, đạo hữu đă đắc đạo Nhập Lưu. (Theo Samyutta Nikàya 55.27: Tạp A Hàm số 55.27). Lần thứ hai, Trưởng lăo Xá Lợi Phất đến bên giường bệnh Tu Đà Cấp Cô Độc, phân tích rằng: - Này đạo hữu Cấp Cô Độc! Đối với những kẻ sống theo dục vọng, tinh thần không được huấn luyện, không thanh tịnh, th́ địa ngục là nơi họ sẽ thấy. Nhưng này đạo hữu Cấp Cô Độc! Đạo hữu là người có Tam bảo trong tâm. Đạo hữu biết giữ giới thanh tịnh, không để cho ác pháp lôi cuốn. Nếu bây giờ đạo hữu tinh tấn niệm tưởng ba ân đức Phật, Pháp, Tăng, rồi niệm tưởng qua giới đức, thân, khẩu, ư của ḿnh hằng trọn lành, th́ thân bệnh của đạo hữu sẽ thuyên giảm, do nhờ thiền pháp vậy. Vả lại, này đạo hữu Cấp Cô Độc! Đạo hữu đừng quên rằng đạo hữu là người có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Đời sống của đạo hữu đúng theo Bát Chánh Đạo, th́ trí tuệ giải thoát tuyệt đối sẽ phát sinh. Đạo hữu là bậc đă bước vào Thánh lưu, có mười duyên lành cao thượng, tâm linh đang hướng về cứu cánh Niết bàn, th́ xuyên qua thiền pháp, thân bệnh của đạo hữu sẽ biến mất. Nhất là khi đạo hữu tăng cường sức mạnh an trụ, tưởng nhớ đến hành trang là thiện nghiệp của một đại Hộ pháp Phật giáo. Đây là thứ thần dược chữa trị phiền năo và thân bệnh hiệu quả và nhanh chóng nhất. Trưởng lăo Xá Lợi Phất tập trung tâm ư để nói pháp. Khi chữ "nhất" vừa chấm dứt, th́ Tu Đà Cấp Cô Độc đă hết đau. Ông tươi tỉnh ngồi dậy, rời giường bệnh, tự tay mang thức ăn cúng dường buổi trưa đến Giảng sư Xá Lợi Phất. Sau đó, ông đàm luận với Trưởng lăo Xá Lợi Phất về Phật giáo thật lâu, như một người khỏe mạnh. Bởi vậy, trước khi trở về chùa Kỳ Viên, Trưởng lăo Xá Lợi Phất c̣n ngâm mấy câu kệ, tặng Tu Đà Cấp Cô Độc như sau:
Trong mười tám bài pháp thuyết đến Tu Đà Cấp Cô Độc, ghi trong Tạng kinh, có mười bốn bài do đức Phật tùy cơ duyên tự nói ra. Một bài Phật thuyết do Tu Đà Cấp Cô Độc đặt câu hỏi. Một bài khác Phật giảng sau khi nghe Tu Đà Cấp Cô Độc thuật chuyện đă đối thoại với những đạo sĩ Bà la môn giáo. Và sau cùng là hai bài pháp do Tôn giả A Nan Đà và Trưởng lăo Xá Lợi Phất đến bên giường bệnh của Tu Đà Cấp Cô Độc để nhắc nhở. Mười tám bài pháp này chứng tỏ rằng trong kho tàng Phật giáo, hẳn đă có một phần quan trọng, dành riêng cho người cư sĩ hay Phật tử tại gia, khi họ muốn đạt đến Thánh quả, mà không cần sống trong Giáo hội! -ooOoo- |
|
Webmaster:
chuyenvienweb@gdptvnac.net