Sự tích
Tu Đà Cấp Cô Độc


SUDATTANĀTHAPIŅDIKA
Anh ngữ: HELLMUTH HECKER
Dịch giả: Nguyễn Điều (1993)


 

trở về Kinh Sách

Chương 1
 Cấp Cô Độc

* Lời nói đầu
*
Chương 1

* Chương 2
* Chương 3
* Chương 4
* Chương 5
* Chương 6

Ư tưởng đẹp

 

TU ĐÀ CẤP CÔ ĐỘC GẶP PHẬT VÀ TRỞ THÀNH MÔN ĐỒ

Vào mùa hạ thứ nhất, sau khi Thái tử Sĩ Đạt Ta Cồ Đàm (Siddhatta Gotama) chứng quả Phật Toàn Giác, và thu nhận đệ tử tại Vương Xá thành (Ràjagaha), thủ đô xứ Ma Kiệt Đà (Magadha), th́ Tăng đoàn lúc ấy chỉ gồm một ít người. Họ sau khi được nghe Phật giảng pháp Tứ Diệu Đế (Catu Àriyasaccàni), đều đắc quả A La Hán (Arahatta) giải thoát.

Chư Thánh Tăng A La Hán đầu tiên ấy đă dứt tận phiền năo, nên sống một cuộc đời thanh tịnh, thoát ly gia đ́nh, rày đây mai đó, lấy quăng trống hay rừng xanh làm nhà, lấy đồi núi hay đồng nội làm nơi hành đạo...

Khi ấy có một đại phú thương, vốn là anh rể của Tu Đà Cấp Cô Độc, đă quy y đức Phật, và chứng kiến đời sống giải thoát, cao thượng của chư vị Thánh Tăng, bèn đề nghị họ yêu cầu đức Phật cho phép ông xây cúng những tịnh xá cố định.

Khi đức Phật chuẩn lời, ông phú thương liền xây cất hơn sáu chục tịnh cốc, để dâng đến đức Phật và chư Thánh Tăng. Được hỏi tại sao ông tạo số tịnh cốc quá nhiều, so với số Thánh Tăng có thể cư ngụ th́ ông phú thương vui vẻ trả lời rằng:

- Tôi làm như vậy v́ muốn được nhiều phước báu!

Và với những tịnh cốc nguyên khởi ấy, một tu viện Phật giáo đầu tiên đă được thành h́nh, để khai sáng giai đoạn truyền bá chánh pháp, đón tiếp những ai hữu duyên, muốn xuất gia tu học, và rèn luyện phẩm hạnh giải thoát. (Theo Cullavagga VI. 1: Tiểu phẩm số VI. 1).

Một hôm Tu Đà Cấp Cô Độc, người phú thương bá hộ Mạnh Thường Quân của thành Xá Vệ (Sàvatth́), trên chuyến thương hành xuyên qua nước lân cận Ma Kiệt Đà (Magadha), đến thủ đô Vương Xá thành (Ràjagaha). Như thường lệ, ông trước tiên ghé thăm người anh rể vừa cũng là một bạn thân của ḿnh.

Khi Tu Đà Cấp Cô Độc đi vào nhà người anh rể, th́ ông lấy làm ngạc nhiên, v́ không ai chú ư đến ông cả. Thói quen mỗi lần ông đến là người anh rể cùng toàn thể gia nhân đă vui mừng ra đón tiếp ông một cách thân mật tận ngoài cửa. Nhưng hôm nay khác hẳn, tất cả đều tỏ ra quá bận rộn đến nỗi hời hợt trước sự có mặt của ông, dường như họ đang để hết tâm ư sửa soạn nghinh đón một nhân vật vô cùng quan trọng!

Tu Đà Cấp Cô Độc liền hỏi người anh rể:

- Phải chăng trong nhà đang có đám cưới, hoặc gia đ́nh đang chuẩn bị một cuộc đại tế lễ, hay tin quốc vương ngoạn cảnh sắp viếng thăm?

Th́ câu trả lời vỏn vẹn chỉ có:

- Ngày mai đức Phật và chư Thánh Tăng đến thọ trai và ban phước lành.

Tu Đà Cấp Cô Độc chợt chú ư hỏi tiếp:

- Hiền huynh nói có một vị Phật sẽ đến?

- Đúng vậy thưa thân đệ! Ngày mai, đức Phật, đấng Toàn Giác sẽ đến.

Tu Đà Cấp Cô Độc lộ hẳn sự kích thích. Ông nhắc lại câu hỏi ấy đến lần thứ hai, rồi lần thứ ba:

- Hiền huynh xác nhận là có một vị Phật sống trong vùng và ngày mai Ngài sẽ đến đây?

- Vâng! Thưa thân đệ! Đấng Toàn Giác ấy sẽ đến ban phước lành trong ngôi nhà này! Hiện giờ Ngài đang an trú tại vườn Śtavana, cạnh Trúc Lâm tịnh xá, phía Tây Vương Xá thành.

Trước câu trả lời đầy đức tin đó, Tu Đà Cấp Cô Độc vừa kinh cảm vừa ngạc nhiên. Ông rùng ḿnh hít một hơi dài rồi thở ra từ từ, đồng thời lẩm bẩm:

"Đức Phật là một danh từ ḿnh đă hiếm được nghe trên đời rồi. Bây giờ lại có thể nh́n thấy một vị Phật bằng xương bằng thịt".

Người anh rể của Tu Đà Cấp Cô Độc nghe thế liền xen vào:

- Bữa nay v́ trời tối, nên thân đệ không thể gặp đức Phật được, nhưng ngày mai chuyện ấy sẽ chắc chắn.

Đêm đó, Tu Đà Cấp Cô Độc ở lại tại nhà người anh rể, nhưng sự kinh cảm và ḷng nôn nóng muốn gặp Phật đă làm cho ông không sao ngủ ngon được. Ông đă thức giấc đến ba lần, nghĩ rằng: "Chắc trời sáng rồi" và nh́n ra ngoài thấy màng đêm vẫn dày đặc. Lần thức giấc sau cùng nghe tiếng gà gáy đầu, nhằm lúc trời gần rạng đông, nên ông mạnh dạn rời nhà người anh rể, định ra khỏi Vương Xá thành, rồi hướng về Trúc Lâm tịnh xá.

Tuy nhiên, trong bóng đêm tàn tịch mịch, sự sợ sệt và ḷng nghi ngại lại phát sinh trong ông. V́ Tu Đà Cấp Cô Độc là một đại phú thương nổi tiếng, của cải rất nhiều, nếu ông phiêu lưu như thế, nhỡ gặp phải phường bất lương sẽ vô cùng nguy hiểm! Do đó, bản năng tự vệ lại khiến ông chùn chân quay lại.

Chợt Tu Đà Cấp Cô Độc b́nh tĩnh, ông nghe tận trong tâm tư dường như có một âm thanh kỳ diệu thúc giục: "Hăy tiến bước! Đến gặp một vị Phật Tổ không bao giờ nguy hiểm!". Thế là ông dũng mănh tiến tới.

Đi một lúc khá lâu, ông đến b́a cụm rừng Sitavana, gần Trúc Lâm tịnh xá. Và trong màng sương rạng đông đùng đục mờ mờ, Tu Đà Cấp Cô Độc chợt thấy một bóng người thấp thoáng, trầm mặc bước đi.

Tu Đà Cấp Cô Độc liền dừng chân quan sát, th́ bóng người thanh tịnh ấy lại quay về phía ông, và một giọng nói thanh tao, hiền ḥa, khó diễn tả, phát ra:

- Hăy đến đây! Này thiện bá hộ của ḍng họ Tu Đà!

Tu Đà Cấp Cô Độc giật ḿnh đánh thót, kinh ngạc vô cùng khi nghe mấy lời "đón tiếp" nghiêm trang ấy. V́ trong vùng Vương Xá thành, ngoại trừ gia đ́nh người anh rể, không một ai biết được tên họ của ông. Người ta chỉ biết ông qua cái danh hiệu Mạnh Thường Quân "Cấp Cô Độc", nhưng cũng ít người biết được mặt thật của ông, bởi trong việc cứu giúp hàng ngàn, hàng vạn dân nghèo, gia nhân ông đă thay thế ông làm hầu hết. Càng ngạc nhiên hơn nữa, là ông chưa bao giờ làm quen với "bóng người" đứng trước mặt kia. Nhất là ông đă đến bất th́nh ĺnh không báo trước!

Một phút ngạc nhiên và yên lặng trôi qua... Lời "đón tiếp" của "bóng người" dường như có một linh lực khiến cho hai chân ông tự động bước tới. Khi đến gần th́ ông nhận ra một đạo nhân phi phàm thoát tục. Tu Đà Cấp Cô Độc tự nhiên không nghi ngờ ǵ nữa. Ông tin chắc đây là đức Phật, liền sụp lạy và v́ cảm động, nói đứt quăng, không thông lời, rằng:

- Lạy Phật! Ngài có được b́nh an không?

- Như Lai luôn luôn b́nh an! Chúc lành ông vừa đến thăm.

Nghe câu trả lời thanh tịnh và từ ái ấy Tu Đà Cấp Cô Độc cảm thấy vô cùng thỏa thích, và đến gần Phật hơn nữa để nghe những lời cao thượng tiếp theo:

- Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Một bậc đă chứng quả Toàn Giác, Giải Thoát th́ không c̣n đau khổ, dù cho ấy là những đau khổ vi tế.

Đoạn đức Phật dẫn Tu Đà Cấp Cô Độc nối theo bước chân kinh hành buổi sáng của Ngài. Vừa đi Ngài vừa giảng giải những Pháp bảo căn bản nhiệm mầu, nhất là các pháp có liên quan đến sự bố thí, tŕ giới, sinh diệt, vô thường, biến hoại, xuất gia, rồi bảo rằng ấy là "Nghiệp thiện và ư thức tiến hóa" có thể đưa con người tới các cơi cao hơn, được giải thoát khỏi những khổ đau phiền năo do say đắm trong các nhục dục ở đời.

Khi đức Toàn Giác nhận thấy Tu Đà Cấp Cô Độc thiện căn đă bộc lộ, tâm tánh đă khai mở, kiến chấp đă vỡ tan, ư thức đă an tịnh, sẵn sàng để hấp thụ chánh pháp, Ngài liền giảng giải cho ông bốn chân lư vô song của Phật giáo là Tứ Diệu Đế (Catu Ariyasaccàni) gồm:

1- Khổ Đế: Khổ đau là một thật tế.

2- Tập Đế: Ái dục, nguyên nhân của khổ đau là một thật tế.

3- Diệt Đế: Niết bàn, trạng thái dập tắt mọi ái dục, hết khổ đau là một thật tế.

4- Đạo Đế: Bát Chánh Đạo, con đường có tám chi dẫn đến chỗ dập tắt mọi ái dục là một thật pháp.

Thấu đáo được bốn chân lư vô song đó, Tuệ nhăn (hay Pháp nhăn: Dhammacakkhu) nh́n thấy mọi sự vật liền phát sinh trong tâm Tu Đà Cấp Cô Độc, khiến cho ông mặc nhiên nhất niệm rằng: "Cái ǵ hễ có sinh th́ phải có diệt". Tu Đà Cấp Cô Độc bây giờ là một người hiểu đúng sự thật, dẹp bỏ được hoài nghi, tự tin chắc chắn vào đạo giải thoát, không c̣n trông đợi vào một tha ân nào khác. Và khi Phật giảng giải chánh pháp xong, ông đă đắc quả đầu Nhập Lưu Tu Đà Hườn (Sotàpatti), một phẩm Thánh chỉ có tiến lên đích giải thoát chứ không bao giờ c̣n sa đọa vào ác đạo nữa.

Sau đó Tu Đà Cấp Cô Độc thành tâm thỉnh mời đức Thế Tôn đến dự trai Tăng tại nhà người anh rể ngày mai và được đức Thế Tôn nhận lời. Sau buổi trai Tăng, Tu Đà Cấp Cô Độc liền xin phép đấng Toàn Giác chấp thuận cho ông xây cất một ngôi chùa dâng đến chư Tăng để cư ngụ trong thành phố Xá Vệ của ḿnh.

Đức Phật thay v́ chấp thuận một cách xác định, Ngài lại bổ túc sự đồng ư của Ngài bằng cách lưu ư người yêu cầu rằng:

- Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Các bậc Giác Ngộ chỉ thích những nơi thanh tịnh.

- Bạch đức Thế Tôn! Con đă hiểu! Con rất hiểu tôn ư của đức Phật! Con sẽ chọn một nơi gần thành Xá Vệ nhưng không ồn ào.

Vừa nói Tu Đà Cấp Cô Độc tỏ vẻ vô cùng hoan hỷ, v́ ông biết rằng đức Thế Tôn đă gián tiếp chấp thuận lời yêu cầu của ông (Theo Samyutta Nikàya 10, 8: Tạp A Hàm 10, 8 và CV VI. 4: Tiểu phẩm VI. 4).

Trên đường trở về thành Xá Vệ (Sàvatthi) đi đến đâu Tu Đà Cấp Cô Độc cũng loan tin cho dân chúng biết ư định lập chùa của ông, và ông c̣n khuyến khích họ chuẩn bị thật chu đáo, để nghinh đón đức Phật một cách long trọng suốt quăng đường dài từ Vương Xá thành (Ràjagaha) đến thủ đô Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu).

Khi về đến đất nhà, ông lập tức đi t́m địa điểm để xây chùa. Nhất là chỗ nào không xa mà cũng không gần thành phố lắm. Địa thế phải đúng tiêu chuẩn ban ngày dẫu người đến đông cũng không trở thành hỗn độn và ban đêm tuyệt đối không có tiếng động. Ngôi chùa trong tương lai ấy cũng phải là nơi Phật tử bốn phương có thể lui tới dễ dàng, đồng thời nó phải thích hợp cho những Cao Tăng quen sống trong cảnh ẩn dật, thanh tịnh.

Sau cùng, Tu Đà Cấp Cô Độc đă t́m ra trong dải đồi bao quanh thành phố Xá Vệ một quăng đất rừng thưa rất thích hợp cho mục đích lập chùa. Khoảng đất rừng này hiện thuộc về Thái tử Kỳ Đà (Jeta), con vua Ba Tư Nặc (Pasenadi).

Tu Đà Cấp Cô Độc lập tức đến gặp vị Hoàng tử ấy, để yêu cầu Hoàng tử nhường lại khoảng đất tốt kia. Nhưng Hoàng tử Kỳ Đà trả lời rằng:

- Dải đất bằng rừng thưa này, bản Vương tử không có ư định bán cho ai cả.

Rồi Hoàng tử thấy nét mặt Tu Đà Cấp Cô Độc có vẻ khẩn khoản, liền nói tiếp, nửa đùa nửa thật, nêu một cái giá cao gấp trăm lần thực tế:

- Cho dù có ai chịu trả đến mười tám triệu đồng tiền vàng, bản Vương tử cũng chưa chắc đă thuận.

Tu Đà Cấp Cô Độc nghe thế liền chụp lấy cơ hội:

- Nếu Hoàng tử chịu nhượng đất cho hạ thần th́ giá nào hạ thần cũng mua cả có thể trả bằng vàng lập tức, không để trễ nải.

Hoàng tử Kỳ Đà tưởng ḿnh nói dọa bằng một giá cực đắc như thế để Tu Đà Cấp Cô Độc tự ư rút lui, nào ngờ ông tuyên bố chấp thuận mua vô điều kiện, khiến Hoàng tử đâm ra lúng túng.

Sự lúng túng đó đă làm cho Hoàng tử Kỳ Đà không biết giải quyết ra sao. Một mặt Hoàng tử không muốn bán đất, mặc khác Hoàng tử cũng không muốn mất thể diện đă nêu giá cao mà lại nuốt lời.

Sau cùng cả Hoàng tử Kỳ Đà lẫn bá hộ Cấp Cô Độc phải đến nhờ một người làm trọng tài. Người trọng tài này, tuy sợ oai quyền của Hoàng tử Kỳ Đà, nhưng trong tâm vốn kính nể Tu Đà Cấp Cô Độc không kém, nên nghĩ ra một cách, đề nghị rằng:

- Đất của Hoàng tử là đất rất quí. Ai muốn mua đất ấy th́ phải đem tiền vàng lót kín diện tích khoảng đất mà ḿnh muốn mua để định giá trả cho Hoàng tử.

Do đó một giao kèo bán đất đă được thiết lập và cuộc thương thuyết kết thúc.

Sau đó, Tu Đà Cấp Cô Độc ra lệnh cho gia nhân dùng mấy chục cỗ xe chở đầy tiền vàng đến lót kín khoảng đất mà ông đă chọn. Tuy nhiên tổng số vàng của mấy chục cỗ xe chỉ đủ cho diện tích đất chùa mà thôi, c̣n các lối vào chưa lót, nên ông phải phái tùy tùng trở về, mở kho lấy vàng thêm.

Trong khi Tu Đà Cấp Cô Độc chưa kịp làm vậy, th́ Thái tử Kỳ Đà, v́ cảm kích hạnh bố thí của bá hộ Cấp Cô Độc nên phát tâm hiến dâng phần đất làm lối đi xung quanh chùa, nơi ấy Hoàng tử sẽ ra lệnh xây cất những ngọ môn, ngoại viên và ṿng thành rất trang nghiêm hùng vĩ. Ṿng thành và các ngọ môn đó sẽ bảo vệ ngôi chùa, ngăn cản tiếng động từ các trục giao thông có xe cộ di chuyển, đồng thời cũng ấn định ranh giới giữa thánh địa tôn nghiêm và làng xóm bên ngoài. C̣n ngoại viên là một lối rộng làm ṿng đai xung quanh chùa, cũng được Hoàng tử cho trồng nhiều thứ hoa trang trí, đủ màu sắc, và lót gạch men rất đẹp! Thế là việc Tu Đà Cấp Cô Độc dùng vàng mua đất xây chùa đă kết thúc mỹ măn.

Tiếp theo, người đại Thiện nam phi thường ấy c̣n dùng đến mười tám triệu đồng tiền vàng để xây cất chính điện, tịnh thất và tất cả các cơ sở cần thiết khác trong chùa. Chẳng hạn như Tăng pḥng, giảng đường, phạn đường, hương đăng khố, hành lang, lối kinh hành, giếng nước, nhà vệ sinh, ao sen, chỗ tắm v.v...! V́ vậy chẳng bao lâu sau, khoảng đất rừng thưa đă trở thành một đại tu viện nguy nga đồ sộ, nổi bật như một trung ương tôn nghiêm, linh địa số một của Phật giáo, thời đức Toàn Giác c̣n tại thế (Theo CV. VI. 4: Tiểu phẩm số VI. 4).

Khi mọi kiến trúc hoàn tất, Tu Đà Cấp Cô Độc vội đích thân đi cung thỉnh đức Phật và chư Thánh Tăng đến chứng minh lễ khánh thành. Cuộc khánh thành đă được tổ chức vô cùng trọng thể dưới h́nh thức nhiều ngày trai Tăng, làm phước, cúng dường thực phẩm và tứ vật dụng đến Thánh nhân.

Phần cúng dường thực phẩm ngày đầu vừa kết thúc th́ Tu Đà Cấp Cô Độc yêu cầu đức Phật chỉ dạy cách nào đúng chánh pháp nhất, để ông dâng ngôi chùa vừa kiến tạo đến đấng trọn lành, đức Phật liền bảo:

- Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Ông hăy hiến dâng ngôi đại tự này cho tứ phương Tăng chúng cả ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai.

Thế là Tu Đà Cấp Cô Độc đă thành khẩn làm theo lời Phật dạy. Và ngôi chùa cũng kể từ đó, được đặt tên là Kỳ Viên Tự (Tức là một tu viện được xây lên ở trung tâm công viên của Thái tử Kỳ Đà).

Nhân để khen ngợi thiện tâm có một không hai của hiền nhân Cấp Cô Độc, đức Phật c̣n ban kệ ngôn rằng:

"Tạo nơi che chở nhiệt, hàn, thú dữ,
Ngăn khỏi phi trùng, rắn, rít, gió mưa.
Tránh loạn cuồng phong, nóng bức hạn mùa,
Để Thánh chúng được yên lành tu tập.
Đây bảo tự, duyên Tu Đà nguyện lập,
Thiện hạnh nào hơn nghĩa cử đang làm!
Tịnh xá xây là trú sở cho tâm,
Hiến dâng vật dụng càng đầy ân đức.

Hành pháp Phật, ấy phước điền chân thật,
Gieo giống lành, quả giải thoát về sau.
Hoa nở là khi tâm hết ra vào,
Trong tam giới đầy khổ đau sinh diệt".

(N. Đ. Thoát dịch thành văn vần)

Sau lễ dâng chùa, cuộc làm phước c̣n kéo dài nhiều ngày, lôi cuốn toàn thể dân chúng quanh vùng tất cả giai cấp đều có mặt: Từ thượng tầng xă hội đến cùng đinh hạ tiện. Mỗi người đến lễ bái đều được Tu Đà Cấp Cô Độc tặng cho một món quà làm kỷ niệm, khiến chi phí cuộc lễ một lần nữa lên đến mười tám triệu đồng tiền vàng.

Như vậy tổng kết cuộc bố thí của Tu Đà Cấp Cô Độc trong ba đợt: mua đất, xây chùa và làm lễ đă trở thành một con số khổng lồ là năm mươi bốn triệu đồng tiền vàng. Ông quả thật là một tín thí vô địch của Phật giáo vậy! (Theo Anguttara Nikàya I. 19: Tăng Chi A Hàm số I. 19).

 

[II] TU ĐÀ CẤP CÔ ĐỘC - MỘT ĐẠI HỘ PHÁP

Tu Đà Cấp Cô Độc t́nh nguyện tiếp tục nhận lănh trách nhiệm nuôi nấng Tăng Già và bảo tŕ ngôi chùa Kỳ Viên cho đến trọn đời. Ông cung cấp hằng ngày tứ sự cúng dường đến chư Tăng. Mỗi buổi sáng, ông dâng cơm nước. C̣n buổi chiều th́ ông hộ độ thuốc men, nhang khói các lễ đài, và đôn đốc gia nhân rửa sạch bát dĩa, giặt giũ y phục, mền chiếu, cũng như quét dọn, lau chùi toàn diện ngôi chùa một cách thận trọng. Nói tóm lại là những công tác ǵ chư Tăng không thể làm được th́ ông cắt đặt nhân viên thực hiện chu toàn. Nhất là việc chăm sóc vườn hoa và những cây cối rợp bóng mát, cùng ao sen, giếng nước và hồ tắm, để cho khuôn viên xung quanh ngôi chùa được luôn luôn tươi nhuận, hợp vệ sinh.

Về sau này, khi số Tăng chúng tụ tập tại chùa và những thiền viện phụ cận, lên đến hàng ngàn vị, th́ hằng ngày, ngoài việc hộ tŕ toàn thể chùa Kỳ Viên, Tu Đà Cấp Cô Độc c̣n thỉnh thêm bảy trăm đại Tỳ khưu về nhà trai Tăng nữa. Nhà ông là một ṭa lâu đài cao bảy từng, mỗi từng chứa một trăm Sa môn, nên đến giờ ngọ thực, lâu đài ấy trông giống như một cơi Phạm hạnh, v́ từ trên xuống dưới thấp thoáng đầy bóng y vàng và lời ăn tiếng nói thấm nhuần thiện pháp.

Khi tiếng khen về tấm ḷng hộ pháp, rộng răi phi thường của Tu Đà Cấp Cô Độc lan rộng khắp nơi, thấu tai quốc vương Ba Tư Nặc (Pasenadi). Nhà vua muốn ganh đua danh tiếng với ông, đă bảo cận thần mời năm trăm vị Tỳ khưu vào cung cúng dường mỗi ngày. Một hôm nhà vua có ư định gặp chư Sa môn để xem phản ứng của họ về sự hộ độ rộng răi của ḿnh ra sao th́ được vệ quan cho biết rằng:

- Các thức ăn thức uống của triều đ́nh dành cho chư Tăng, tuy đă dọn sẵn và mời họ tự tiện dùng nhưng các Sa môn lại đem trao cho những Phật tử nhiệt thành khác, rồi bảo họ dâng cúng trở lại, cho hợp lẽ đạo.

Nhà vua cảm thấy khó chịu, thắc mắc rằng:

- Thực phẩm của hoàng gia là những thức ăn thượng hạng, không phải tầm thường, thế mà chư Sa môn đă chẳng tranh nhau thọ dụng, để khen ngợi mà c̣n có những cử chỉ kỳ lạ?

Sau đó, quốc vương Ba Tư Nặc đến gặp Phật để hỏi duyên cớ th́ được Phật trả lời:

- Này bệ hạ! Sự cúng dường đến chư Tăng mời vô hoàng cung của bệ hạ chỉ có h́nh thức vật chất, nhưng không có giá trị tinh thần. Các quan quân được bệ hạ giao làm việc ấy chỉ biết hành động v́ tuân lệnh. Họ tuân lệnh bố thí đến các hàng Sa môn như tuân lệnh dọn quét, rửa ráy một chỗ dơ bẩn, hay tuân lệnh lùng bắt một tên trộm nộp trước triều đ́nh, chứ trong thâm tâm họ không có tối thiểu hiểu biết ǵ về thiện nghiệp của ḿnh cả. Cũng như họ không có một niềm kính ngưỡng xứng đáng nào đến chư Tỳ khưu Tăng. Trong đầu họ c̣n nghĩ rằng: "Những Sa môn cao tuổi này chắc không biết làm ǵ để sống nên phải ăn bám nhờ dân chúng!"

- Này bệ hạ! Khi hiến tặng một vật mà người làm tỏ ra thái độ ấy th́ người nhận không dám thọ dụng một cách yên tâm, cho dù vật hiến tặng có đắt giá đến đâu đi nữa! Ngược lại, khi những thí chủ gương mẫu như Tu Đà Cấp Cô Độc hay Nguyệt Trang tín nữ dâng cúng bất cứ vật ǵ, họ cũng hành động với tất cả ḷng thành. Chư Tỳ khưu Tăng lúc nhận, cũng thọ dụng một cách thanh tịnh và quán tưởng rằng: "Bậc xuất gia hằng ngày được thiện nam tín nữ hộ độ th́ phải chăm lo tu hành để hồi hướng phúc đức cho toàn thể nhân loại chúng sanh". Rồi họ từ bi đón nhận vật thí.

- Một bữa cơm đạm bạc, hiến dâng bởi một tấm ḷng thành vẫn quư hơn cao lương mỹ vị mà đem cho với sự lạnh lùng hay bằng một thái độ khinh bỉ.

- Này bệ hạ! Chắc bệ hạ c̣n nhớ câu ngạn ngữ: "Cơm chua mà thành tâm chia sớt cho nhau th́ cũng trở thành ngon ngọt!?" (Theo Jàtaka 465: Túc Sinh truyện số 465).

Rồi để nhà vua dễ nhớ, đức Phật c̣n ngâm câu kệ rằng:

"Nắm cơm tuy có tầm thường,
Nhưng tâm thành kính khi nhường cho nhau.

Th́ cơm ngon biết dường nào,
Ăn cơm ngon ấy tâm vào an vui".

(N. Đ. Phỏng dịch thành văn vần theo Jàtaka 346: Túc Sinh truyện số 346)

Tu Đà Cấp Cô Độc và Nguyệt Trang tín nữ không phải chỉ là hai thí chủ lớn nhất của Tăng Già tại thành Xá Vệ, mà họ c̣n là hai cư sĩ hộ pháp đặc biệt được đức Thế Tôn ban cho diễm phúc thay mặt Phật để tổ chức hàng ngũ Phật tử lúc bấy giờ. (Theo các Jàtaka 337, 346, 465: Túc Sinh truyện số 337, 346, 465).

Tuy nhiên Tu Đà Cấp Cô Độc dù có tiền rừng, bạc biển đến đâu, ông cũng không tránh khỏi cái luật thịnh suy, vô thường và bất trắc. Trong một trận đại băo lụt nọ, ông đă bị nước cuốn trôi đi toàn thể tiền dự trữ gồm mười tám triệu đồng tiền vàng. Rồi những người vay tiền ông tổng cộng đến mười tám triệu đồng tiền vàng khác, cũng quịt luôn không trả!

Gia tài khổng lồ chín chục triệu đồng tiền vàng của ông vốn đă xuất ra ba phần năm để mua đất, cất chùa và làm lễ hết năm mươi bốn triệu đồng tiền vàng rồi (18x3=54). Bây giờ ông gặp nạn bị thiên tai và những kẻ thiếu nợ cướp mất ba mươi sáu triệu đồng tiền vàng c̣n lại nữa, thành thử bỗng chốc ông trở thành tay không. Tu Đà Cấp Cô Độc mới ngày nào là một đại triệu phú th́ hiện tại là một người nghèo.

Nhưng điều đáng quí là đối diện với nghịch cảnh, ông vẫn tiếp tục làm bổn phận của một người hộ pháp, nuôi dưỡng Tăng Già. Khác chăng là ngày trước ông đủ điều kiện để dâng cúng những bữa ăn đầy đủ, th́ ngày nay ông có món ǵ, thành kính đem dâng chư Sa môn món ấy, để cùng nhau thanh tịnh tu tập, sống qua ngày.

Nhắc lại lúc đó có một vị Thọ thần ngụ trong đỉnh tháp trên tầng lầu thứ bảy ṭa nhà Tu Đà Cấp Cô Độc. Cứ mỗi lần đức Phật và chư Thánh Tăng đến, y v́ kinh sợ oai đức của Thánh nhân, không dám ở yên trong trú sở trên cao của ḿnh phải bước xuống đất. Điều này làm cho y bực bội. Do đó, đă từ lâu, vị Thọ thần hằng t́m cách để làm cho Tu Đà Cấp Cô Độc không mời Phật và chư Thánh Tăng tới nhà nữa, nhưng y vốn chưa t́m ra dịp tốt.

Nhân cơ hội Tu Đà Cấp Cô Độc trở thành nghèo, Thọ thần liền hiện đến trước mặt viên quản gia của Tu Đà Cấp Cô Độc nói rằng:

- Này bạn! Nhà bá hộ bây giờ đă nghèo rồi, bạn nên khuyên ông chủ đừng cúng dường các Sa môn nữa.

Nhưng người quản gia lại làm ngơ, không nghe theo lời xúi giục ấy. Thọ thần bực tức quay sang dụ dỗ cậu con trai của viên quản gia với mục đích tương tự là chống lại đức Phật và chư Tăng. Rồi y cũng thất bại luôn.

Sau cùng Thọ thần vận dụng hết phép lực của ḿnh, hiện nguyên h́nh có hào quang bao phủ, trước mặt chủ nhà Tu Đà Cấp Cô Độc để khuyên ông không nên tiếp tục bố thí nữa. Thọ thần viện dẫn rằng: "Vàng bạc là của quí trên đời, không có nó đời sống sẽ vô cùng cơ cực. Vậy nếu c̣n chút ít, ông không nên đánh mất v.v...".

Nhưng Tu Đà Cấp Cô Độc liền điềm tỉnh trả lời:

- Này Thọ thần! Đối với tôi, trên đời chỉ có ba thứ quí nhất: Đó là Phật, đấng thân, khẩu, ư trọn lành, hoàn toàn giải thoát. Pháp những lời dạy chân chánh cứu khổ của Ngài, và Tăng, những Sa môn sống đúng phạm hạnh, diệt tận tham, sân, si phiền năo, làm phước điền cho chúng sanh nhân loại.

- Này Thọ thần! Tu Đà Cấp Cô Độc này từ ngày giác ngộ được chân lư, chỉ biết t́m kiếm và bảo vệ ba thứ ấy, ngoài ra không ưa thích bất cứ vật ǵ khác! Bây giờ yêu cầu Thọ thần hăy đi chỗ khác, v́ trong nhà này không có chỗ để cho một Thọ thần chống lại Phật, Pháp, Tăng.

Thế là vị Thọ thần, theo luật của cơi Địa tiên dục giới phải rời chỗ ở nhà Tu Đà, mong mỏi đến gặp vị Địa tiên đang là thần hoàng của thành Xá Vệ (Sàvatth́) để yêu cầu xin lên bậc trên cho ḿnh có một trú sở mới. Nhưng khi ước muốn của Thọ thần được tŕnh với Tứ Đại Thiên Vương, th́ bốn vị vua trời này cũng không đủ khả năng thẩm xét một vị Thọ thần chống lại Tam bảo, nên cuối cùng số phận của Thọ thần phải đặt vào trong tay của vua trời Đế Thích (Sakka).

Sống trong cảnh không có trú sở nhất định, rày đây mai đó vị Thọ thần bắt đầu xét lại việc ḿnh đă làm, và ư thức được ấy là nghiệp xấu nên âm thầm hối hận. Vua trời Đế Thích biết được chuyện ấy bèn để cho Thọ thần lang thang một thời gian, chừng nào can đảm quay về sám hối th́ ông mới giải quyết.

Khi Thọ thần đến trước Đế Thích cầu sám hối và xin một thiện nghiệp ǵ làm, để chuộc tội th́ Đế Thích phán rằng:

- Này Thọ thần! Ngươi ở trong nhà Tu Đà Cấp Cô Độc biết trước mọi tai nạn suy sụp của chủ nhà mà không báo trước để gia chủ tránh là một lầm lỗi quan trọng! Bây giờ muốn chuộc tội, người phải làm cách nào để hoàn lại gia sản cho Tu Đà Cấp Cô Độc.

Cách chuộc tội đă được đưa ra, vị Thọ thần vô cùng mừng rỡ nhận thi hành lập tức những phán quyết của Đế Thích để phục thiện. Trước tiên, Thọ thần dùng thần thông gom lại tất cả số đồng tiền vàng của Tu Đà Cấp Cô Độc đă bị nước cuốn trôi ra biển. Kế tiếp, Thọ thần t́m kiếm những kho tàng chôn dấu vô chủ nằm trong ḷng đất hay dưới nước, hoặc những kho tàng đă có chủ, nhưng cả ḍng họ con cháu hiện chết hết không c̣n ai thừa hưởng. T́m xong Thọ thần đem tặng tất cả cho Tu Đà Cấp Cô Độc! Sau cùng, Thọ thần quay sang đ̣i nợ cho ông bá hộ bằng cách hiện vào trong giấc mơ của những người thiếu nợ, dùng thần lực biểu diễn, bảo phải trả nợ cho ông Tu Đà Cấp Cô Độc v.v...

Nhờ vậy, chẳng bao lâu sau, Tu Đà Cấp Cô Độc bỗng tự nhiên giàu có như cũ. Ngoài việc thu hồi số của cải xưa, ông c̣n được hoạch tài thêm năm mươi bốn triệu đồng tiền vàng nữa. Số của này tương đương với tổng cộng chi phí ba lần mua đất, cất chùa và làm lễ, chứng tỏ rằng sự cúng dường Tam bảo của Tu Đà Cấp Cô Độc đă không làm gia tài ông giảm xuống!

Sau đó, Thọ thần hiện ra trước mặt đức Phật để sám hối, xin Ngài tha thứ cho những nghiệp ác mà y đă tối tăm phạm phải. Đức Thế Tôn với ḷng từ bi vô lượng đă giải tội cho Thọ thần. Ngài c̣n ban pháp lành cho Thọ thần giác ngộ, rồi y xin qui y trở thành đệ tử Phật nữa.

Đức Phật giảng thêm cho Thọ thần hiểu rằng:

- Một bậc đại hạnh khi đă dùng pháp bố thí để trở thành hoàn toàn giải thoát, th́ không có sức mạnh nào trên thế gian này có thể ngăn cản họ được, dù cho sức mạnh ngăn cản đó phát xuất từ vua chúa, phát xuất từ hiền thần hay hung thần, phát xuất từ ác tiên hay thiện tiên, và ngay cả phát xuất từ thần chết. (Theo Jàtaka 140 và 340: Túc Sinh truyện số 140 và 340).

Sau khi Tu Đà Cấp Cô Độc đă tái trở thành triệu phú, c̣n giàu có hơn trước, một người Bà la môn trong vùng v́ ganh ghét, muốn tước đoạt cái "phép lạ" (hay bí quyết) đă cứu giúp và phục hồi gia tài Tu Đà Cấp Cô Độc nhanh chóng như thế. Y bèn nghĩ ngay đến thần tài Siri. (Theo văn minh Bà la môn giáo th́ thần tài Siri xuất hiện dưới h́nh thức "điềm lành" trong nhà người nào th́ người đó sẽ trở nên giàu có).

Vậy việc phải làm của người Bà la môn ác tâm kia, là t́m cách chiếm đoạt cái "thần tài" hay điềm lành ấy đem về nhà y, th́ tự nhiên y sẽ trở nên giàu có. Điều này cũng phản ảnh niềm tin của tín đồ Bà la môn giáo rằng: Ai giàu có trên đời là nhờ t́m được "tín hiệu", tức thần tài hay phú lệnh (c̣n gọi là điềm lành) do Thượng đế ban xuống trần gian. Chứ không phải sự giàu có hiện tại là do gặt hái quả lành từ thiện nghiệp của ḿnh đă tạo trong kiếp trước như đức Phật đă dạy! Nói một cách khác "thần tài" là một loại "âm binh" của Thượng đế rải xuống trần gian. Ai t́m cách chiếm đoạt hay dụ dỗ, cầm giữ được những h́nh tướng của các "âm binh" này trong nhà ḿnh, th́ ḿnh sẽ trở nên giàu có.

Nghĩ đoạn, người Bà la môn t́m đến nhà Tu Đà Cấp Cô Độc. Y xin phép được vào tận bên trong để quan sát t́m kiếm tín hiệu của thần tài. Nhờ biết nham độn và có khả năng bói toán nên y liền thấy thần tài "nằm" trong con gà trống lông trắng được bá hộ Tu Đà Cấp Cô Độc rất cưng, nhốt trong một lồng bằng vàng.

Người Bà La môn lập tức hỏi xin con gà cồ lông trắng, y viện lư do rằng y sẽ dùng tiếng gà gáy buổi sáng của nó để đánh thức đám học tṛ dậy. Với hạnh nguyện bố thí, Tu Đà Cấp Cô Độc không chần chừ liền cho con gà. Nhưng ngay lúc ấy "tín hiệu thần tài" lại rời con gà, nhập vào một viên ngọc trên áo của chủ nhà. Người Bà la môn biết được sự việc quay qua xin viên ngọc th́ y thấy "thần tài" bỏ viên ngọc, nhập vào trong cây gậy của Tu Đà Cấp Cô Độc. Y lại xin cây gậy th́ "thần tài" di chuyển đến mái tóc của người đệ nhất phu nhân Tu Đà Cấp Cô Độc, tên là Punnalakkhana, một người đàn bà rất nhiều phúc đức và luôn luôn được các hàng chư Thiên vô h́nh bảo vệ.

Khi người Bà la môn nh́n thấy đệ nhất phu nhân Punnalakkhana th́ y giật ḿnh hoảng sợ, tự nhủ rằng: "Chết chửa! Bây giờ thần tài nằm trên mái tóc của đệ nhất phu nhân Tu Đà Cấp Cô Độc, lại có Thiên chúng hộ vệ th́ ta hết đường chiếm đoạt".

Cuối cùng, người Bà la môn v́ hổ thẹn đă thú thật dă tâm của ḿnh với chủ nhà, rồi trả lại con gà, viên ngọc và cây gậy, đoạn bỏ đi.

Khi Tu Đà Cấp Cô Độc đến thăm Phật, thuật hết mọi chuyện liên quan đến người Bà la môn biết một thứ nham độn mà ông không hiểu ǵ cả, th́ được nghe đức Phật giảng giải rằng:

- Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Sự định tâm của con người có thể giúp họ biểu diễn được một số khả năng đặc biệt.

- Này Tu Đà Cấp Cô Độc! Nếu khả năng vật chất của loài người có thể tiện lợi, nhanh chóng, chính xác và tối tân hơn, nhờ vào những dụng cụ hay máy móc tinh vi, th́ khả năng tâm linh của họ cũng có thể nhiệm mầu tuyệt diệu hơn, nhờ những ưu tính tu luyện thuần thục, thanh tịnh và thánh thiện.

- Xa hơn nữa, này Tu Đà Cấp Cô Độc! Niết bàn là một phẩm cách siêu việt đối với phàm nhân và những ai chưa dứt sạch phiền năo. Nhưng Niết bàn là một pháp rất hiển nhiên và thực tế đối với các bậc đă hoàn toàn giải thoát. (Theo Jàtaka 284: Túc Sinh truyện số 284).

Tu Đà Cấp Cô Độc vốn có một ḷng sùng kính đức Phật vô cùng chu đáo. Ông nghĩ đến mọi h́nh thức tạo phúc hướng về đức Phật. Khi đấng Toàn Giác có mặt gần ông tại đất nhà, thành phố Xá Vệ, th́ ông hẳn đến Kỳ Viên Tự lễ bái hằng ngày. Nhưng những lúc đức Bổn Sư phải đi xa, lê gót chân ban bố chánh pháp các nơi khác, th́ ông phải làm sao? Thế là một ư nghĩ tạo phương tiện để gián tiếp lễ bái đức Phật tại Xá Vệ lại nảy ra trong đầu óc ông.

Một hôm Tu Đà Cấp Cô Độc ngỏ ư với Tôn giả A Nan Đà rằng: "Ông muốn xây một kiến trúc dành riêng cho đức Phật gần Kỳ Viên Tự". Rồi qua trung gian của Tôn giả A Nan Đà, ông được nghe đức Phật dạy:

- Có ba h́nh thức kiến trúc để tưởng nhớ lâu dài đến tṛn giáo pháp một vị Phật. Đó là Bảo tháp (hay đền thờ), đài Kỷ niệm, và Thánh địa:

1/ Bảo tháp (hay đền thờ) dành để an trí các di thể, từ nhục thân của Phật để lại. Chẳng hạn như Xá lợi hay tro quí sau khi viên tịch hỏa táng v.v...

2/ Đài Kỷ niệm dùng để lưu giữ những vật dụng của đức Phật đă từng ít nhất là dùng một lần lúc sinh tiền. Chẳng hạn như b́nh bát, cội Bồ đề.

3/ Thánh địa dùng để gợi h́nh ảnh tượng trưng cho sự xuất hiện và những sinh hoạt của đức Phật khi c̣n tại thế.

Trong ba h́nh thức ấy để gián tiếp lễ bái này, cái thứ nhất không có được, v́ đức Thế Tôn c̣n sống. Cái thứ ba cũng không thích hợp, v́ Thánh địa gợi h́nh ảnh tượng trưng cho sự xuất hiện và sinh hoạt của đức Phật, chỉ có giá trị sau khi đức Phật đă khuất bóng! C̣n lại h́nh thức lễ bái gián tiếp thứ hai là "Phật dụng" (hay đồ dùng của đức Phật) th́ khả dĩ tạo được.

Tu Đà Cấp Cô Độc liền nghĩ ngay đến cây Bồ đề ở xứ Uruvela, gần sông Ni Liên (Anoma) mà đức Phật đă dùng che nắng che mưa, để t́m ra con đường giải thoát, cứu khổ cho ḿnh và toàn thể chúng sanh. Chính dưới cội Bồ đề này, Ngài đă t́m ra và mở được cánh cửa bất tử.

Suy nghĩ về những giá trị vật dụng như thế, sau cùng Tu Đà Cấp Cô Độc quyết định mang một nhánh Bồ đề, từ chỗ đức Phật đă đắc đạo kia, về trồng trong thành Xá Vệ.

Tôn giả Đại Mục Kiền Liên biết được thiện ư của Tu Đà Cấp Cô Độc, liền t́nh nguyện dùng thần thông chiết một nhánh con Bồ đề từ Bồ đề đạo tràng, mé rừng Uruvela (Khổ Hạnh lâm) thuộc nước Ma Kiệt Đà (Magadha) mang về thành Xá Vệ. (Lời thêm của dịch giả: Khoảng cách từ thành Xá Vệ đến Bồ đề đạo tràng rất xa, ngày nay nếu đi xe hơi cũng phải chạy một ngày ṛng ră mới tới. Vả lại, thuở ấy kỹ thuật canh nông trồng trọt không tối tân như bây giờ. Một nhánh Bồ đề con mà chuyên chở bằng kỵ mă hay mă xa, dưới ánh nắng như thiêu như đốt của miền Trung Ấn th́ không cách ǵ c̣n sống đến chỗ trồng. Đây chính là lư do mà Tôn giả Đại Mục Kiền Liên đă phải dùng thần thông, một khả năng mà Thánh Tăng chỉ dùng trong những trường hợp bị bắt buộc.

Nhắc lại việc trồng cây Bồ đề tại đại ngọ môn chùa Kỳ Viên thành Xá Vệ. Khi ấy, ngoài sự chứng minh của đức Phật và Thánh chúng, c̣n có sự hiện diện của quốc vương Ba Tư Nặc. Tôn giả A Nan Đà nh́n Đại thánh Mục Kiền Liên th́ thấy tự nhiên ông biến mất. Rồi chỉ một nháy mắt sau, ông đă hiện nguyên h́nh trở lại, trên tay cầm một nhánh Bồ đề con tươi rói, như mới được chiết từ thân cây mẹ cách đó vài giây. Tôn giả A Nan Đà nhân muốn đề cao thẩm quyền cai trị của một vị quốc vương trong lănh thổ của họ, nên đă đón lấy cây Bồ đề con trên tay Đại thánh Mục Kiền Liên và trao lại cho vua Ba Tư Nặc.

Nhưng vua Ba Tư Nặc vội khiêm nhường nói rằng:

- Bạch đức Thế Tôn và chư Thánh Tăng! Trẫm chỉ là người đứng đầu trong vương quốc về mặt đời. C̣n về mặt đạo, chính Tu Đà Cấp Cô Độc mới là bậc cư sĩ duy nhất xứng đáng gieo trồng giống Bồ đề thánh thiện này trên lănh thổ của chúng ta. Vậy trẫm đề nghị nhường danh dự ấy cho Tu Đà Cấp Cô Độc".

Thế là cây Bồ đề được trồng tại trung tâm công trường, cổng chính dẫn vào Kỳ Viên Tự.

Và thời gian lặng lẽ trôi qua cây Bồ đề trước, chùa Kỳ Viên mỗi ngày một cao lớn, cành lá sum suê, cho bóng mát và nhắc nhở những kẻ thiện tâm tưởng nhớ đến khung cảnh nơi đức Phật đă thành đạo. Để tăng cường ư nghĩa sự hiện diện của cây Bồ đề chùa Kỳ Viên, Tôn giả A Nan Đà c̣n cung thỉnh đức Phật ngồi tham thiền bên gốc cây Bồ đề này để ban phúc đến Thọ thần và làm cho địa điểm càng lúc càng tăng sự thánh thiện, thanh tịnh.

Riêng Tu Đà Cấp Cô Độc, kể từ ngày cây Bồ đề hiện diện trước Kỳ Viên Tự ông đă xem đó như một h́nh ảnh thứ hai của đức Phật, nhất là những khi đấng Toàn Giác đi hóa đạo phương xa. Tu Đà Cấp Cô Độc hằng ngày lại dùng cây Bồ đề làm đề mục tu thiền và ông đă ổn định được tâm hồn ḿnh xuyên qua một h́nh ảnh gần nhất với sự đắc đạo của đức Phật (Theo Jàtaka 479: Túc Sanh truyện số 479).

-ooOoo-

 

 

Webmaster: chuyenvienweb@gdptvnac.net