Cành Lá Vô Ưu


Thích Thanh Từ - 1994 -


 

trở về Kinh Sách

Tất Cả Pháp Không Cố Định

Cành lá vô ưu

***Lời mở đầu
1-Tu là cầu b́nh an...
2-Nguồn gốc mê tín
3-Cuộc đời tương đối

4-
T́nh thương sẽ
    không c̣n, ...
5-Đức Phật là bậc Thầy
các nhà khoa học
6-Tất cả Pháp
    không cố định
7-Phá rừng tre gai
8-Nước có dậy sóng không
9-Nụ cười bất diệt

 

 

Mọi con người chúng ta đều mắc phải bệnh cố chấp, muốn cái ǵ ḿnh yêu thích phải c̣n như vậy măi. Mỗi khi những cái đó đổi thay, ḿnh sinh ra đau khổ chán chường, trách tại sao cái đó không giống ngày xưa. Bệnh cố chấp ấy khiến chúng ta sống trong hiện tại mà tâm hồn vẫn lùi về quá khứ. Quá khứ đă qua, đă mất, mà chúng ta cứ sống với cái mất, chính chúng ta đang sống mà đă chết đi rồi.

Trên đời, muôn vật luôn thay đổi như ḍng nước chảy, chúng ta muốn nắm đứng chúng lại chỉ là việc toi công. Sự biến chuyển đă thành qui luật của thiên nhiên, không ai có quyền làm sai qui luật ấy. Nếu chúng ta muốn khác đi với qui luật này, là chúng ta tự rước lấy sự đau khổ vào ḿnh. Bởi thời gian cứ chạy măi th́ muôn vật cũng theo đó đổi thay. Chúng ta mới mua chiếc xe Honda thấy mới toanh, chạy mấy tháng sau đă phai màu, có vài bộ phận ṃn lỏng. Nhớ lại lúc mới mua xe đem về, chúng ta cảm thấy buồn chiếc xe cũ rồi. Một cái nhà mới cất, chúng ta thấy hài ḷng, nhưng ở được vài ba năm đă thấy trên tường có mấy lằn rạn nứt, những màu nước vôi đă trắng bạc, các cánh cửa đă lung lay. Chúng ta cảm thấy buồn, cái nhà mới cất mấy năm mà đă cũ. Mọi vật chúng ta luôn luôn biến đổi, biến đổi theo thời gian và biến đổi do nhân duyên hội tụ đủ thiếu. Đóa hoa sen trong hồ, xây ở trước sân, vừa nở tṛn thơm nhẹ, nh́n nó chúng ta cảm thấy vui lâng lâng. Vài hôm sau từng cánh hoa rơi lả tả, chúng ta trông thấy ḷng buồn rười rượi. Cây cam trước nhà sung sức cành lá sum sê, trái đeo cằn nhánh, chúng ta nh́n nó với nụ cười thích thú. Mây năm sau, cây cam già lụi lá rụng cành khô, chúng ta nh́n nó với vẻ buồn thất vọng. Chúng ta muốn giữ măi cái ǵ làm đẹp mắt chúng ta. Chúng ta cố bám chặt cái ǵ đem lại quyền lợi cho chúng ta và những cái ǵ có tính thân t́nh liên hệ với chúng ta, khi mất mát nó chúng ta mới thật buồn khổ. Đây là ḷng tham cố giữ cái sở hữu của ḿnh. Nếu chiếc xe của người khác hư, cái nhà người khác cũ, chúng ta có buồn không? Quả là do cái chấp ngă sở của chúng ta, nên khi vạn vật vô thường sinh diệt, chúng ta liền bị lôi kéo theo. Cố chấp là si mê, không thể thấy được sự thật của cuộc đời.

Con người chúng ta cũng thế, về thể xác th́ tế bào sinh diệt, diệt sinh liên tục không dừng. Hết thời tăng trưởng tới thời suy tàn, như ḍng nước thủy triều hết lên lại xuống. Thế mà, chúng ta nghe nói thân này già là cảm thấy buồn. Có những người thời trai trẻ khuân vác gánh gồng, làm nhiều mà không thấy mệt. Đến khi tuổi sắp lục tuần, ra làm chút ít đă thất thở hào hển, tự trách tại sao bây giờ yếu lắm vậy. Họ đâu biết thân họ đă đến lúc tàn cỗi rồi. Người ta cứ tưởng ḿnh như thuở nào, chớ không biết ḿnh đang xê dịch lần về cơi chết. Bởi vậy nghe nói cái chết đâm ra hoảng sợ. Đó là chúng ta không biết thể xác này luôn luôn biến đổi vô thường. Sợ chết, sợ mất thân này là do si mê chấp ngă mà ra. Đến phần tinh thần cũng vậy, trong ấy luôn luôn biến đổi diệt sinh. Tâm niệm này sinh tâm niệm kia diệt, cứ măi đổi thay không cùng. Có ai đó nghĩ rằng tâm niệm ḿnh trước sau như một, đây là một nhận định sai lầm. Bởi họ cho tâm niệm ḿnh trước sau như một, nên thấy tâm ai trước trắng sau đen, họ đâm ra bực bội căm hờn. Họ quên rằng mỗi khi hoàn cảnh đổi thay, hoặc hội nhập vào xă hội xa lạ, tâm con người liền chuyển đổi theo thời theo cảnh. Chúng ta đừng ngây thơ nghĩ rằng kẻ kia trước thế nào, ngày nay dù hoàn cảnh khác đi tâm họ vẫn như xưa. Đó là nhận định sai lầm khiến ta ôm hận suốt đời. Nỗi đau khổ của con người là sợ già sợ chết, sợ người thân đổi dạ thay ḷng. Song cái sợ ấy làm sao tránh khỏi. Chỉ cần sáng suốt nhận rơ rằng thân này là tướng vô thường hoại diệt, tâm này là một ḍng biến chuyển vô chừng. Được vậy, thân ta có già có chết cũng không buồn, ḷng người có đổi trắng thay đen cũng chẳng lạ. Thế là chúng ta sống cuộc đời an ổ vô cùng.

Đây tôi thuật lại chuyện "Cố nhân về thăm cố hương" cho quí vị nghe: Tôi rời khỏi quê hương năm 1947, đến năm 1980 tôi trở về thăm. Quê hương tôi là nơi tôi đă sống hơn hai mươi năm thật là gắn bó và thân thiết biết bao. Từ chùa Phước Hậu thuê thuyền máy đưa thầy tṛ chúng tôi về Rạch Tra. Đến vàm Rạch Tra rồi! Chú phụ lái ngồi trước nói. Tôi vội vàng chun ra khỏi mui, ngồi trước mũi thuyền. Đây là gịng sông thân thuộc chứa chan biết bao kỷ niệm ngày xưa. Tôi tin rằng không thể nào quên được những ngôi nhà của bà con thân quyến nằm bên cạnh bờ sông. Nhưng than ôi! nh́n hai bên bờ sông tôi thấy lạ hết, những cảnh ngày xưa tôi biết,ngày nay đổi khác. Nào là nhà bác Chín Chiếu, nhà ông Cả Lập..., tôi không t́m ra ở chỗ nào. Cho đến bến sông nhà tôi ngày xưa, một chiếc cầu thang bắc xuống sông, bên phải bụi tầm vông, bên trái cây mít, kế một cái xẻo đi vô trong, nơi để ghe xuồng khi chúng tôi đi đâu về. Những h́nh ảnh này tôi t́m măi, t́m măi mà không thấy. Thuyền đi khá xa, tôi đă biết ra khỏi nhà xưa của chúng tôi rồi. Bảo dừng thuyền lại, tôi t́m lên cầu lên bờ hỏi thăm, mới biết là đă đi quá hơn nửa cây số. Thuyền quay trở lại, ghé ngay bến theo người hàng xóm chỉ. Tôi theo cây cầu dừa bắc duỗi xuống sông trơn trợt, chống cây làm gượng lên đến bờ. Những đứa bé lớn có nhỏ có ở các nhà xung quanh thấy thuyền đậu, chúng chạy úa đến xem. Tôi nhớ nhà tôi ngày xưa ở giữa, bên cạnh xẻo là nhà chú Tám, bên trái nh́n ra đường là nhà anh Hai Nhất, kế đó là nhà chú Bảy ... mà nay nhà cất loạn, không c̣n một chút dấu tích ǵ của ngày xưa. Cho đến những người thân ngày xưa đâu mất cả, tôi không thấy ai, chỉ thấy đám người trẻ xa lạ không biết tôi, cũng như tôi không biết họ. Mấy mươi phút sau, có mấy ông già, bà già đến, nh́n ra tôi mới biết đây là anh Bảy, Nhung con cô Năm tôi, kia là cô Tư con chú Bảy tôi, rồi thiếm Sáu Cừ dâu chú Tám tôi ... Nh́n ra tôi, mỗi người nghẹn ngào vừa mừng vừa khóc. Tôi cũng cảm thấy nao nao trong ḷng. Các vị ấy dẫn tôi đi thăm nền nhà cũ của tôi, ở đây chỉ c̣n là một khoảnh đất trống, cuốc thành những luống khoai, trồng bắp. Tôi chợt nhớ đến hai câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương". Những h́nh ảnh xưa sống lại trong kư ức tôi. Kế đến đi thăm những ngôi mộ của ông nội, bà nội tôi, mà ngày xưa mỗi năm ông thân tôi và tôi đều tảo mộ vào dịp hai mươi tháng chạp. Sắp từ giă trở về chùa Phước Hậu, mọi người vây quanh tôi nhắc chuyện năm xưa, khi kia mọi người đều c̣n trẻ, mà nay hầu hết đă từ biệt cơi đời, chỉ c̣n sót lại một ít người gặp nhau mà không nhận ra nhau, khiến ḷng tôi se lại. Từ giă mọi người, chúng tôi trở về chùa Phước Hậu. Ḷng tôi cứ ôn đi ôn lại, ḿnh là "cố nhân về thăm cố hương" hay là "người mới về thăm cảnh mới". Cảnh đă hoàn toàn mới, người cũng mới, bản thân tôi cũng mới luôn. Khi xưa ra đi, tôi là một thanh niên trên hai mươi tuổi, ngày nay trở về tôi là ông già đầu bạc hoa râm. Khi xưa tôi là người cư sĩ, ngày nay tôi là kẻ xuất gia. Từ thể xác lẫn tinh thần đều đổi mới. Nếu tôi cứ buồn trách cảnh thay đổi, người thay đổi, sao tôi không tự trách tôi cũng đă thay đổi. Đúng như hai câu thơ của Thiền sư Măn Giác: "Trước mắt việc đi măi, trên đầu già đến rồi" (Sự trục nhăn tiền quá, lăo tùng đầu thượng lai). Chúng ta mới thấm thía lẽ "Tất cả đều thay đổi, không có ǵ là cố định". Cố bám lấy h́nh ảnh xưa cũ, chúng ta sẽ đau buồn v́ nó không c̣n như ḿnh nhớ. Mọi vật là một ḍng biến thiên từng phút giây, chúng ta luôn luôn sống với cái mới. Nhận thức được như vậy, chúng ta sẽ cười khi ḍng đời luân lưu biến chuyển.

Bản thân các pháp là chuyển động là đổi dời. Thấy rơ sự chuyển động đó là thấy được sự thật. Nghĩ là các pháp là nguyên vẹn không đổi dời, là cái nghĩ sai lầm. Trên cái nghĩ sai lầm này, lại sinh tâm buồn phiền than trách là cố chấp. Cố chấp là nguồn gốc khổ đau. Cho nên người học Phật phải thấy các pháp đúng sự thật của nó. Chính cái thấy đúng sự thật này là khoa học. V́ khoa học nhận thấy sự vật là một ḍng sinh diệt bất tận. Với con mắt khoa học hiện đại không thấy có một sự vật nào mà không sinh diệt và đứng yên một chỗ. Từ thân người cho đến cây cỏ, từng tế bào sinh diệt trong ấy. V́ vậy người vật hết thời kỳ tăng trưởng, đến thời kỳ lăo hóa và bại hoại. Có cái ǵ bền lâu nguyên vẹn mà chúng ta cố chấp. Nếu cố chấp là si mê không giác ngộ, là sai lầm không đúng khoa học.

Sở dĩ các pháp biến chuyển không cố định, v́ bản chất nó là vô thường vô ngă. Chúng ta định nghĩa sống là ǵ? Là động. C̣n luân lưu biến động là c̣n sống. Dừng sự biến động là chết. Bản thân ta là động, muôn vật là động. Đă là động th́ biến chuyển đổi dời, đấy là vô thường. Sống trong biển biến động vô thường của vạn vật mà chúng ta muốn nó được thường, thực là một điều không bao giờ có. Hành tinh chúng ta đang ở, nó quay tṛn măi không dừng, nếu dừng lại là nổ tung. Chính thân chúng ta, tim đập măi không dừng, một khi nó dừng là chúng ta chết. Con người và muôn vật đều bám vào quả đất mà sống, bản thân quả đất lại quay cuồng, th́ con người và muôn vật làm sao an định được. Cho nên sự tồn tại của quả đất, cũng như sự tồn tại của muôn vật là động, đấy là lư vô thường Phật đă dạy. Thấu triệt lư vô thường này, chúng ta sẽ cười trước mọi biến đổi, nhất là sự biến đổi của thân ta lúc bại hoại.

Con người và muôn vật sống trên quả đất, kể cả quả đất đều do nhiều nguyên tố họp lại thành h́nh. Không có vật nào đơn thuần từ một nhân tố mà thành. Đă do nhiều nhân tố chung hợp thành sự vật, những nhân tố ấy nhà Phật gọi là nhân duyên. Nếu phân tích một con người hay sự vật, chúng ta thấy nhiều lớp nhân duyên tụ họp thành. Nơi con người th́ có mấy tỷ tế bào chung họp, mỗi loại đều có chức năng riêng. Ở mỗi vật cũng do nhiều tế bào kết hợp, hay những hạt nguyên tử đang quay cuồng xoắn chặt vào nhau. Đă nhiều loại nhiều thứ th́ loại nào thứ nào là chủ? Hoặc do nhiều thứ họp lại thành, tức không có thực thể. Không có chủ, không thực thể, Phật gọi là vô ngă. Từ vô ngă là chỉ cho mọi vật do nhân duyên hợp không có chủ thể, nên nói "chư pháp vô ngă". Bởi vô ngă nên chúng ta không chấp ḿnh thật, vật thật. Không chấp ḿnh là không chấp ngă, không chấp vật là không chấp ngă sở. Không chấp ngă và ngă sở th́ c̣n cái ǵ để chúng ta tham cầu. Nếu không tham cầu th́ c̣n ǵ lo sợ, c̣n ǵ bực tức. Thế là do thấy được lẽ thật nơi con người và sự vật, chúng ta dứt được si mê. Do hết si mê, chúng ta dừng được tâm tham lam và nóng giận, ngang đây tam độc không c̣n. Đó là kết quả tốt đẹp cuả người tu Phật.

Tóm lại, do biết rơ các pháp không cố định tức là vô thường, vô ngă, nên chúng ta buông xả tất cả cố chấp si mê. Chính đây là "chánh kiến" trong Bát Chánh Đạo. Mọi cố chấp đều y cứ nơi con người và sự vật. Thấy rơ người vật đều tạm bợ biến thiên không thật, th́ mọi cố chấp đâu c̣n. Không c̣n cố chấp th́ tất cả khổ đau đều tan biến. Sở dĩ chúng ta nhiều buồn khổ là sợ thân này bệnh, chết. Biết bệnh chết là lẽ thường, con đường mà ai cũng phải đến, c̣n ǵ sợ hăi việc bệnh và chết. Chúng ta sợ cái bất thường chỉ đến riêng ḿnh, nên cố gắng né tránh. Nếu là việc chung của tất cả, chúng ta có sợ cũng chỉ vô ích thôi. Cho nên Tuệ Trung Thượng Sĩ khi sắp tịch, nằm trên cái giường tại Dưỡng Chân Trang nhắm mắt tịch. Các bà thê thiếp khóc rống lên, Ngài mở mắt quở: "Sanh tử là lẽ thường, tại sao làm náo động chân tánh ta". Rồi ngài nhắm mắt an nhiên mà tịch. Cho đến mọi vật sở hữu của ta cũng thế, nó là vật vô thường bại hoại, chúng ta muốn nó c̣n măi sao được. Chi bằng thấy chúng là tướng giả dối tan hợp vô thường, khi chúng c̣n th́ chúng ta dùng, khi chúng mất th́ chúng ta cười, v́ lẽ thường là như thế. Kinh Kim Cang Phật dạy: "Phàm cái ǵ có tướng đều là hư dối" (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng). Lối nh́n này là trọng tâm thoát khổ của chúng sanh. Chúng ta sợ khổ mà không chịu mở con mắt trí tuệ thấy được lẽ thật nầy th́ muôn đời cũng không hết khổ.

 

 

Webmaster: chuyenvienweb@gdptvnac.net