|
Bố Thí Ba-La-Mật Thích Trí Siêu - 1998 - |
|
4. Bố thí có mấy loại? |
||
|
Bố Thí
|
Nếu ta là người học Phật lâu năm ta sẽ nhanh nhẹn trả lời rằng có 3 loại: 1) Tài thí: tức bố thí tiền. Trả lời như vậy xong, ta yên chí cho là ḿnh đă hiểu xong Bố thí Ba La Mật, rồi ta bỏ qua, đi lấy Kinh Hoa Nghiêm ra đọc, hoặc lấy sách Tổ Sư Thiền ra coi. Nhưng than ôi! Ta đă lầm to, Bố thí Ba La Mật đâu phải chỉ có bấy nhiêu thôi! Khi nói đến sự bố thí, th́ ta nhận ra có ba yếu tố tạo ra nó, đó là: người cho (năng thí), món đồ (vật thí), và người nhận (sở thí). Ba món Bố thí mà ta vừa kể trên (Tài, Pháp, Vô úy) thuộc về vật thí. C̣n người cho và người nhận, ta đă sơ xuất bỏ quên. Ba yếu tố cho ra sự Bố thí quan trọng lắm, nếu thiếu một trong ba cái đó th́ sẽ không có sự Bố thí. Có người cầm trong tay một món đồ muốn cho mà không có ai nhận th́ không có sự bố thí. Có món đồ mà không có người cho và người nhận th́ cũng không có sự bố thí. Có người sẵn sàng nhận đồ mà không có ai cho th́ cũng không có sự bố thí. Nếu muốn phân loại th́ ta phải căn cứ trên ba yếu tố của sự Bố thí mà phân loại: - Trên phương diện người cho (dayaka) th́
có hai loại: Bố thí trong sạch (visuddhadàna) và
không trong sạch (avisudha). Trên đây chỉ là tạm phân loại tổng quát thôi, v́ mỗi loại lại được phân ra làm các phần nhỏ nữa mà ta sẽ đi sâu vào chi tiết sau. I. Trên phương diện người thí Có hai loại bố thí: Trong sạch và không trong sạch.
Vừa kể trên là sự bố thí trong sạch cho tất cả mọi người. Riêng cho Phật tử th́ Bố thí trong sạch c̣n có nghĩa là bồi đắp công đức cho sự giải thoát, tức Niết Bàn (Nirvàna). Phải bồi đắp cách nào? Bằng cách bố thí với tâm trong sạch, không cầu phước báo của Trời (Deva), người (Manusya), không cầu sự sung sướng trong đời này và đời sau, chỉ cầu giải thoát của Niết Bàn, bố thí với tấm ḷng cung kính (satkàra) hoặc từ bi (maitŕkarùna). Trong lúc chưa chứng được hoàn toàn quả Niết Bàn, ta vẫn tái sinh ở cảnh an vui của Trời, người (mặc dù không cố ư cầu), đó là do nghiệp báo tốt của sự bố thí trong sạch. Đức Phật có nói rằng: 'Trên đời này có hai hạng người rất là hiếm có: 1) Một vị Tỳ Khưu đă hoàn toàn giải thoát trong số các tu sĩ lang thang (pravajita); 2) Một người biết bố thí trong sạch trong số các cư sĩ tại gia' (Anguttara I). II. Trên phương diện vật thí Có ba loại: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí. Trong mỗi loại trên lại chia ra: chân chính và không chân chính. 1) Tài thí Tài thí lại chia ra hai loại: Ngoại thí và Nội thí.
Ngoài ra nếu ta bố thí trong những trường hợp sau đây th́ phước báo sẽ tăng lên gấp bội: 1. Bố thí đúng lúc. Có nghĩa là bố thí
cho: những người đi xa, người từ
xa mới đến, người bịnh, người
trông coi kẻ bịnh, trong những mùa giá lạnh. * Sự bố thí toàn vẹn của Họa sĩ Karna (Sùtralamkara). Thuở đó ? làng Puskaravàvati có một người họa sĩ tên là Karna. V́ làm ăn không khá nên anh ta đă từ giả gia đ́nh vợ con, lên đường một ḿnh sang nước lân cận là Taksasila. Nơi đây anh ta tận tụy làm việc, kết quả là sau mười hai năm, anh ta đă dành dụm được ba chục đồng tiền vàng. Hớn hở, anh ta trở về quê cũ, trên đường về làng nghe thấy một hồi chuông trống báo hiệu sắp có một cuộc hội họp quan trọng của Chư Tăng, thế là anh ta lần ṃ đến. Với một đức tin trong sạch anh đi gặp vị Tăng Tri sự (tức vị Tăng phân phối chỉ huy buổi họp) mà hỏi rằng: 'Thưa ngài, buổi họp như vậy nếu kéo dài một ngày th́ phải cần chi phí bao nhiêu để có thể cúng dường (vật thực) đầy đủ cho chư Tăng?' Vị Tăng Tri sự trả lời: 'Khoảng ba mươi đồng vàng th́ đủ cho một ngày'. Nghe vậy xong, anh liền móc túi lấy ra ba mươi đồng vàng đưa hết cho vị Tri sự mà thưa rằng: 'Con xin thành tâm, dâng cúng vật thực một ngày cho chư Tăng'. Sau đó anh ta trở về nhà với hai bàn tay trắng. Về đến nhà, vợ anh mừng rỡ chạy ra đón và hỏi: 'Trong suốt mười hai năm anh đă làm được bao nhiêu tiền?' Anh ta trả lời: 'Được ba mươi đồng vàng'. Vợ anh hỏi tiếp: 'Thế ba mươi đồng vàng đâu anh hăy cho xem?' Anh ta nói: 'Tôi đă gieo tất cả vào một ruộng phước (punyaksetra) rồi'. Vợ anh hỏi ruộng phước nào th́ anh trả lời: 'Tôi đă cúng dường hết cho Giáo đoàn Tăng Già (Sangha)'. Vừa nghe như vậy xong, người vợ liền nổi giận la hét mắng chửi và đánh đập anh, rồi lôi kéo anh ra ṭa nhờ quan trên xét xử và trừng phạt anh. Ra đến ṭa, quan hỏi có chuyện ǵ th́ vợ anh thưa rằng: 'Chồng tôi là một tên khùng nặng ! Trong suốt mười hai năm trời đi làm ở nước ngoài, dành dụm được ba mươi đồng vàng. Nhưng về đến đây không biết nghĩ và thương hại đến vợ con, nên chồng tôi đă phung phí, cho người ta hết không c̣n đồng nào. Chiếu theo pháp luật, tôi lôi anh ta đến đây xin quan trên xét xử'. Quan ṭa hỏi người chồng: 'Tại sao anh lại đưa cho người ta hết thay v́ đem về đưa cho vợ con?' Anh trả lời: 'Trong những kiếp sống trước của tôi, tôi đă không biết làm các hạnh lành, v́ thế nên trong kiếp này tôi phải chịu cảnh nghèo và cực khổ. Nhưng cũng trong kiếp này, tôi có duyên may gặp được một ruộng phước, và nếu tôi không nắm lấy cơ hội gieo vào đó những hạt giống lành, th́ chắc chắn trong những kiếp vị lai tôi sẽ phải chịu măi măi cảnh nghèo khổ không biết đến bao giờ mới hết. V́ muốn thoát khỏi cảnh nghèo khổ nên ngày hôm nay tôi đă cúng dường hết số vàng của tôi cho đoàn Tăng Già'. Vị quan ṭa này lại là một Ưu bà tắc (Upàsaka), có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, nên sau khi nghe anh họa sĩ trả lời như thế, liền hết ḷng tán thán: 'Việc làm của anh quả thật là cao thượng, anh đă biết bố thí toàn vẹn cho Giáo đoàn số tiền dành dụm được sau bao năm làm lụng cực khổ. Thật là cao quư, tôi đây thiệt không bằng'. Thế rồi vị quan ṭa liền tháo cái ṿng ngọc đang đeo ở cổ đưa tặng anh ta, cùng lúc cho anh ta con ngựa của ḿnh đang cưỡi và một làng nhỏ. Rồi cuối cùng quan ṭa lại nói thêm: 'Anh vừa mới hiến tặng cho Giáo đoàn, th́ tôi đây cũng xin hiến tặng lại anh, nhưng đó chỉ gọi là một chút quả báo hiện tại, chắc chắn trong những kiếp tới phước đức quả báo của anh sẽ vô lượng'. * Sự cúng dường của Ma Ha Ca Diếp (Maha Kasyapa) Ca Diếp có nghĩa là Ẩm Quang, v́ thân h́nh của ngài lúc nào cũng tỏa ra ánh sáng rực rỡ và trang nghiêm. Do nhân duyên nào mà được như thế? Trong một tiền kiếp quá khứ xa xưa vào thời Đức Phật Tỳ Bà Thi (Vipasyin), lúc đó tôn giả Ca Diếp tiền thân là một thợ bạc chuyên đúc tượng. Một ngày nọ, có một thiếu nữ nghèo vào tiệm trên tay mang theo một thoi vàng, nhờ ông đúc một pho tượng Phật. Người thợ bạc thấy thế liền hỏi : " Vàng ở đâu mà cô có? " Thiếu nữ trả lời :" Trên đường đi lễ Phật về đă nhặt được." Người thợ bạc lấy làm ngạc nhiên hỏi : " Tôi thấy cô nghèo khổ quá, không đủ cơm ăn, áo mặc, sao cô không đem vàng này bán đi để chi dụng cho cuộc sống mà lại đem đúc tượng Phật? " Thiếu nữ nói : "V́ tôi có phát lời nguyện tại chùa là nếu có đủ thuận duyên th́ tôi sẽ đúc một pho tượng Phật bằng vàng đẻ cho chúng sinh chiêm ngưỡng lễ bái. Và hôm nay làm được như vậy là tôi măn nguyện lắm rồi, không c̣n mong cầu chi khác hơn." Cảm động trước sự phát tâm bố thí cúng dường quá rộng lớn của thiếu nữ, người thợ bạc cũng phát tâm : " Được, tôi sẽ đúc cho cô pho tượng Phật này và tôi cũng xin nguyện cúng dường không lấy tiền công." Do nơi công đức bố thí và cúng dường này mà chín mươi mốt kiếp sau, hai người sinh ra lúc nào thân h́nh lúc nào cũng trong sáng trang nghiêm và gặp được nhiều thiện hữu tri thức, cho đến kiếp sau cùng sinh vào nước Ấn Độ gặp Phật Thích Ca xuât gia học đạo đồng chứng quả A La Hán. 2) Pháp thí Thế nào là pháp thí? Được xem là pháp thí gồm có: 1. Tất cả những lời nói chân thật, hữu ích có thể đem lại an lạc cho người nghe. 2. Giảng dạy chánh pháp của đức Phật (Buddhadharma). 3. Giảng dạy ba Tạng pháp: Kinh (Sùtra), Luật (Vinaya) và Luận (Abhidharma). 4. Giảng dạy cho người biết hai pháp: Thanh văn (Sravaka) và Bồ Tát (Bodhisattva). Nghi vấn: Tại sao Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) cũng giảng dạy ba Tạng pháp, pháp Thanh văn và Bồ Tát mà lại bị đọa xuống Địa ngục? Lư do tại sao? Ai cũng biết Đề Bà Đạt Đa là người chuyên môn ganh đua t́m cách hại đức Phật, lại c̣n hay chia rẽ phá rối sự ḥa hợp của Tăng đoàn. Ngoài hai trọng tội này ra, Đề Bà Đạt Đa lại c̣n tạo rất nhiều tội về tà kiến. Sự giảng dạy thuyết pháp của Đề Bà Đạt Đa không phải là một sự bố thí Pháp trong sạch, nhằm cầu sự giải thoát, mà là cầu danh, cầu lợi, cầu sự kính trọng, ... Chính v́ sự Pháp thí không trong sạch này nên Đề Bà Đạt Đa chẳng gặt hái được công đức nào, và vẫn bị xuống địa ngục như thường. * Pháp thí không chân chính là giảng dạy những giáo pháp của ngoại đạo, không đưa con người đến sự giải thoát sinh tử luân hồi (như dạy xuất hồn, dạy làm bùa phép, v...v...) * Pháp thí chân chính là giảng dạy những giáo pháp đưa con người đến giải thoát rốt ráo của Niết Bàn (Nirvàna). 3) Vô úy thí Vô úy thí có nghĩa là bố thí sự không sợ hăi, tức là làm cho người khác được an tâm yên chí, không sợ ǵ cả. Theo nguồn gốc Kinh tạng nguyên thủy (Anguttara, Itivuttaka) th́ chỉ có hai loại Bố thí, đó là Tài thí và Pháp thí. Nhưng theo giáo lư Đại thừa (Mahayàna), có thêm vào một loại bố thí thứ ba là Vô úy thí. Theo ư kiến cá nhân, th́ tôi thấy Vô úy thí nằm trong Tài thí hoặc Pháp thí. V́ sao? V́ khi bố thí, tức là cho, th́ có hai cách: một là cho bằng hành động, hai là cho bằng lời nói. Nếu bằng hành động th́ đó thuộc Tài thí, c̣n nếu bằng lời nói th́ đó thuộc Pháp thí. Thí dụ: * Nếu có một người đi đường ban đêm sợ cướp giật, thấy thế ta liền đi theo bảo vệ cho người đó hết sợ. Ta gọi đó là Vô úy thí. Nhưng hành động đi theo của ta chính là thân thí (có nghĩa là vác cái thân của ta đi theo người đó), vậy tức là thuộc tài thí rồi. * Nếu có người sợ chết, sợ xuống địa ngục, ta liền đem giáo lư an ủi họ, chỉ cho họ làm lành hoặc biết niệm Phật th́ sau khi chết sẽ về Cực Lạc. Nhờ đó họ không c̣n sợ chết nữa. Ta gọi đó là vô úy thí. Nhưng những lời lẽ mà ta an ủi họ, đó chính là Pháp thí rồi. Ta không thể nào tự nhiên làm cho người khác hết sợ hăi được. Ta phải làm một cái ǵ đó (một lời nói, một sự hiện diện, một sự an ủi, một sự giúp sức,...) cho người ấy th́ người ấy mới hết sợ (vô úy) được. Sự hết sợ chính là kết quả của Tài thí hoặc Pháp thí. V́ vậy Vô úy thí không thể được xem là một loại bố thí riêng biệt không tùy thuộc ǵ nơi hai sự bố thí kia cả (Tài và Pháp thí). * Thế nào là vô úy thí chân chính? Vô úy thí chân chính hay không chân chính đó là tùy thuộc ở Tài thí và Pháp thí có chân chính hay không? Thí dụ: - Có một người sợ chết. Ta bảo họ đừng sợ, cứ lo niệm Phật, ăn chay, làm phước, đến khi chết sẽ về Cực Lạc. Th? rồi họ nghe theo và hết sợ chết. Đó là vô úy thí chân chính. - Cũng cùng một người, nếu ta bảo họ đừng sợ chết, v́ chết là hết, không có ǵ phải lo cả, không có địa ngục, không có thiên đàng. Nếu họ tin ta mà không sợ chết nữa, th́ đó là Vô úy thí không chân chính (v́ ta dạy họ chấp đoạn). 4. So sánh ba loại Bố thí V́ thấy Vô úy thí nằm trong Tài thí hoặc Pháp thí nên ở đây tôi chỉ so sánh Tài thí với Pháp thí thôi. Đa số chúng ta ai cũng biết trước là Pháp thí quư hơn Tài thí. Chính đức Phật đă nói: 'Trong hai loại Bố thí này, th́ Pháp thí là trên' (Anguttara I). V́ sao? V́ nhiều lư do: - Phước báo của Tài thí vẫn thuộc cơi Dục giới (Kàmadhatu) c̣n phước báo của Pháp thí có thể nằm trong ba cơi (Traidhàtuka) hoặc ngoài ba cơi. - Sự Bố thí tài (tiền của, đồ vật) có giới hạn, c̣n sự Bố thí Pháp không có giới hạn (apramàna), v́ tiền cho lâu rồi cũng hết, c̣n giáo pháp cho hoài không bao giờ hết. - Quả báo của Tài thí c̣n thuộc về hữu lậu, trong khi quả báo của Pháp thí thuộc vô lậu. - Bố thí tài cần phải đ̣i hỏi nhiều sức lực, ra công trong khi bố thí pháp chỉ cần sự thông minh và trí tuệ. - Chỉ có bố thí Pháp mới có thể gặt hái được những phước báo giống như các hàng Thanh Văn (Sravaka), Bích chi Phật (Pratyekabuddha) hay Bồ Tát (Bodhisattva). - Chỉ có bố thí Pháp mới có thể dẫn người khác đến con đường giác ngộ (Bodhimàrga). - Ta có thể thực hành Tài thí trong bất cứ thời đại (Kalpa) nào, dù có Phật hay không có Phật ở đời. Ngược lại, chỉ trong thời đại có một đức Phật ra đời ta mới có thể thực hiện Pháp thí được. V́ thế Pháp thí hiếm hơn Tài thí. Ta có thể nêu ra nhiều lư do nữa, nhưng tóm lại bố thí Pháp sẽ gặt hái được nhiều công đức hơn bố thí tài. III. Trên phương diện người nhận hay ruộng phước Tại sao lại gọi người nhận (pratigràhaka) ruộng phước (punyaksetra)? Tại v́ chính ở nơi họ mà ta gieo hạt giống phước đức nên gọi là ruộng phước. Nhờ có họ mà ta mới thực hiện được sự Bố thí. Có hai loại ruộng phước: 1) Ruộng phước nhỏ (Karunàpunyaksetra) : V́ ḷng thương hại (karunà) người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống thương hại sẽ cho ra những cây lúa nhỏ, nên gọi là ruộng phước nhỏ. 2) Ruộng phước lớn (satkàrapunyaksetra) : V́ có tâm kính trọng (satkàra) người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống kính trọng sẽ cho ra những cây lúa lớn, nên gọi là ruộng phước lớn. * Sự Bố thí của vua A Dục (Asoka) Một hôm đức Phật đi tản bộ cùng với ngài A nan trên thành Vương Xá (Ràjagrha). Đến một quăng đường có hai trẻ nhỏ Jaya và Vijaya đang vui đùa lấy đất sét nắn thành những cái nhà nhỏ. Khi thấy đức Phật đến gần, chúng rất vui mừng hớn hở. Jaya lấy đất sét nắn thành một cái bánh, thành kính cúi đầu cúng dâng cho đức Phật, c̣n Vijaya lức đó cũng chắp hai tay lại cúi lạy theo bạn. Jaya, trong lúc cúng dường cái bánh đất, phát nguyện rằng sau này sẽ làm vua an trị cả một thế giới, rồi em tụng lên một bài kệ cúng dường đức Phật. Đức Phật hoan hỷ đưa tay đón nhận cái bánh đất của em và mỉm cười. Thấy đức Phật mỉm cười, ngài A nan lấy làm lạ nên hỏi lư do, và đức Phật trả lời rằng: 'Một trăm năm, sau khi ta nhập Niết Bàn, đứa bé này sẽ là một vị Chuyển luân thánh vương (Cakravartin) trông coi một trong bốn châu thiên hạ, và trong thành phố Kusumapura (Pàtaliputra), nó sẽ làm một vị minh vương tên là A Dục (Ásoka). Sau khi chia phát những xá lợi của ta xong, nó sẽ xây cất 84.000 bảo tháp để làm lợi ích cho muôn loài'. Sự tích trên cho ta thấy ư nghĩa phước báo của một sự bố thí với ḷng kính trọng người nhận, tức ruộng phước lớn. * Sau khi phân tách tỉ mỉ, đi sâu và o chi tiết từng loại bố thí, ta có thể tóm tắt lại như sau:Một sự bố thí được xem là trong sạch và đem lại phước đức quả báo vô lượng vô biên cần phải có ba yếu tố sau đây: 1) Người bố thí phải có tâm trong sạch. -oOo- |
|
Webmaster:
chuyenvienweb@gdptvnac.net