Bố Thí Ba-La-Mật


Thích Trí Siêu - 1998 - 


 

trở về Kinh Sách

2. Bồ Tát Đạo

Bố Thí
Ba-la-mật


1-Mở đầu
2-Bồ Tát đạo
3-Bố thí là ǵ ?

4-Bố thí có mấy loại
5-Bố thí Ba La Mật
6-Bố thí và 6 Ba La Mật
7-Những điều lầm lẫn về Bố thí
8-Kết luận

 

I. Bồ Tát Đạo

Định nghĩa Bồ Tát.

Bồ Tát là nói tắt của Bồ Đề Tát Đỏa tức Bodhisattva (Sanscrit). Bodhi là giác, Sattva là hữu t́nh. Bodhisattva có nghĩa là người giác ngộ. Nói như vậy th́ hơi mơ hồ, v́ đức Phật cũng là người giác ngộ, A-La-Hán cũng là người giác ngộ, vậy Bồ Tát khác Phật, khác A-La-hán chỗ nào? Có nhiều lối giải thích:

1. Trên phương diện độ sanh: A La Hán tự độ (độ ḿnh), Bồ Tát độ tha (độ người), c̣n Phật là giác hạnh viên măn (độ ḿnh và độ người đă xong).

2. Trên phương diện phát nguyện th́:

- A La Hán chỉ cầu thoát khỏi sinh tử luân hồi.

- Bồ Tát là người phát tâm cầu thành Phật để độ tất cả chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi. Trên quảng đường từ lúc mới phát Bồ đề tâm (Bodhicitta) cho đến lúc thành Phật th́ gọi là Bồ Tát.

3. Trên phương diện chứng đắc th́:

- A La Hán đă phá được ngă chấp, tức chứng được 'ngă không' (Sattvàsùnyatà), không c̣n chấp vào một cái Ta (Atman) hiện hữu.

- Bồ Tát cũng chứng được 'ngă không', nhưng chưa hoàn toàn được 'pháp không' (Dharmasùnyatà).

- Phật th́ đă phá hoàn toàn ngă chấp và pháp chấp, tức là thấy được thực tướng của vạn pháp, thấy được các pháp không sinh (anutpanna), không diệt (anirudha).

4. Trên phương diện tu tŕ:

- A La Hán tu theo Tứ Đế, ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

- Bồ Tát hành Lục độ (Bố thí, Tŕ giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ).

- Phật th́ cũng giống như Bồ Tát nhưng đă tới đích. Trên đây chỉ là khái lược sơ về sự khác biệt giữa Phật, Bồ Tát và A La Hán.

Chúng ta là hàng Sơ phát tâm Bồ Tát th́ cần chú trọng nhiều về hai phương diện phát nguyện và tu tŕ. Phát nguyện là phát Bồ đề tâm tức tâm nguyện thành Phật để cứu độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi, c̣n tu tŕ là luôn luôn t́m mọi cách để thực hành Lục độ.

II. Tầm quan trọng của phát nguyện và hồi hướng

Trong đạo Phật, ta thường nghe nói về Tam Độc tức là ḷng ham muốn, giận tức và si mê, chúng trói buộc ta trong ṿng sinh tử luân hồi. Và muốn giải thoát th́ ta phải dẹp trừ chúng bằng cách bớt ham muốn, mở rộng ḷng từ bi, trau dồi giáo lư Phật Pháp. Do hiểu như vậy, 0nên nhiều người trong chúng ta không dám mong cầu ǵ cả, đến chùa tụng Kinh cho vui vậy thôi chứ không thành tâm phát nguyện và hồi hướng (trong các thời Kinh ở chùa đều có văn phát nguyện và hồi hướng, nhưng v́ không chú tâm hoặc không hiểu nên gọi là không thành tâm), khi bố thí th́ bố thí vậy thôi chứ không nghĩ ǵ hết. Rồi ta cho như vậy là đúng, v́ trong Thiền Tông thường nói giữ 'Tâm Không', nên ta không dám nghĩ, không dám mong cầu ǵ hết, chỉ giữ Tâm Không thôi. Nếu ta cứ làm như vậy hoài th́ kiếp sau ta sẽ đầu thai thành cục đá bên lề đường, v́ cục đá cũng có Tâm Không, vô tri vô giác, không nghĩ, không biết ǵ cả. Cơi Ta Bà mà chúng ta đang ở đây thuộc về cơi Dục. Chúng sanh ở đây luôn luôn ham muốn, ham muốn ngũ dục: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ ấm. Nhưng chúng ta quên mất một điều là tất cả chư Phật đều thị hiện thành Phật ở cơi này, chứ không thành Phật ở hai cơi Sắc và Vô Sắc. Đức Phật dạy ta ĺa bỏ ngũ dục chứ đâu có dạy ta ĺa bỏ Niết Bàn dục (tức ḷng ham muốn đạt được Niết Bàn). Ở đời, khi làm một việc ǵ th́ ta thường có lư do và mục đích. Lúc nhỏ ta cắp sách đến trường, lư do là cha mẹ ta muốn cho ta nên người. Mục đích của sự học là để được bằng tú tài. Có tú tài để được vào Đại Học. Vào Đại Học mấy năm để có được một văn bằng (diplôme). Có văn bằng để đi ra làm việc. Làm việc để có tiền. Có tiền để nuôi thân hoặc nuôi gia đ́nh,... Tất cả những cái 'để' đó đều là mục đích của những hành động và việc làm của ta. Khi có mục đích là có sự mong cầu. Sự mong cầu hay ham muốn được xem là tốt hay xấu tùy theo mục đích của nó tức là đối tượng của sự mong cầu. Nếu ta ham muốn ngũ dục th́ đó là xấu v́ kết quả là ta sẽ đau khổ, ngược lại nếu ta ham muốn học đạo, tu đạo, th́ đó là một sự ham muốn tốt v́ kết quả là ta sẽ giải thoát, hưởng sự an vui của Niết Bàn. Khi ta ham muốn vừa vừa th́ gọi là mong cầu, khi ta hết ḷng ham muốn và quyết chí đạt cho được mục đích th́ gọi là nguyện. Tất cả chư Phật và Bồ Tát đều là những người đă mong cầu, đă phát nguyện năm xưa. Ta há không nhớ Đức Phật Thích Ca đă phát nguyện ǵ dưới gốc cây Bồ Đề? Ngài nguyện: 'Dù máu khô, thịt nát, xương tan, nếu không giác ngộ (thành Phật) ta thề không rời khỏi nơi đây.'

Ngoài ra đọc trong Túc Sanh Truyện (Jataka) kể về các tiền thân của đức Phật, ta sẽ thấy là mỗi khi làm một hạnh ǵ, ngài đều phát nguyện và hồi hướng. Phát nguyện cầu thành Phật để cứu độ chúng sanh và hồi hướng tất cả công đức cho quả vị Phật.

Hồi hướng là ǵ?

Là gom góp tất cả để đặt vào một chổ. Người làm phước nhiều mà không biết hồi hướng sẽ giống như người đi làm cho có thật nhiều tiền đem về chất đầy nhà, rồi không biết làm ǵ với đống tiền đó.

Hăy lấy một thí dụ:

1. Ta đến chùa làm một việc công đức, mà trong tâm ta luôn luôn nghĩ đến sự giàu sang sung sướng, th́ kiếp sau ta sẽ được giàu sang sung sướng.

2. Cũng một việc công đức đó, mà ta hồi hướng được giải thoát sinh tử luân hồi, th́ trong những kiếp sau ta sẽ được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.

3. Cũng một việc công đức đó, mà ta hồi hướng cầu thành Phật th́ chắc chắn một kiếp xa xôi nào đó ta sẽ thành Phật.

Tại sao trong thí dụ (1) nói kiếp sau, thí dụ (2) nói những kiếp sau, và thí dụ (3) nói một kiếp xa xôi, ư nghĩa là sao?

Thí dụ (1) nói về sự giàu sang sung sướng ví như một cái áo bành tô (manteau) trị giá 700 quan. Thí dụ (2) nói về sự giải thoát sinh tử luân hồi ví như một chiếc xe hơi trị giá 70.000 quan. Thí dụ (3) nói về sự cầu thành Phật ví như một căn nhà villa trị giá 700.000 quan.

Nếu ta đi làm lương một tháng là 5000 quan, và trong đầu ta không có một mục đích ǵ cả, th́ khi đi đường, nếu thấy một cái áo bành tô đẹp, vừa giá ta có thể mua được th́ ta mua ngay không chần chờ.

Cũng với số lương đó mà ta muốn có một chiếc xe hơi th́ ta phải dành dụm năm này qua năm nọ, không dám lấy tiền lương xài vào việc khác như mua quần áo, th́ khoảng vài năm là ta có thể có được một chiếc xe hơi.

Cũng với số lương đó mà ta muốn có một căn nhà villa th́ ta phải dành dụm lâu hơn nữa v́ lương của ta quá ít so với giá tiền của cái nhà. Do đó ta phải gom góp dành dụm tiền lương không dám xài hoang phí vào việc khác, mà cốt chỉ để mua nhà. Vậy th́ khoảng hai mươi năm hay hơn nữa ta mới hoàn toàn làm chủ cái nhà (v́ ở bên Pháp cho trả Crédit).

Sau ba thí dụ trên, ta thấy rằng cũng cùng một hành động (karman) cùng một nhân (hetu) mà có quả báo khác nhau. Đó là do tâm hồi hướng mà ra. Nếu ta tạo công đức nhiều mà không biết hồi hướng th́ uổng lắm, v́ sao? Dĩ nhiên là khi tạo công đức th́ chắc chắn ta sẽ gặp quả báo tốt, nhưng uổng v́ đó là quả báo hữu lậu của thế gian, sau một thời gian ta sẽ c̣n lại hai bàn tay trắng mà thôi.

Nếu thấy được tầm quan trọng của sự phát nguyện và hồi hướng th́ sau này : trước khi, trong khi, và sau khi làm một việc ǵ tốt ta nên phát nguyện và hồi hướng. Và hơn nữa khi ta gặp một việc công đức nào ta sẽ vui mừng v́ đó là một cơ hội cho ta tiến mau đến mục đích (nếu là trường hợp ta thích xe hơi hoặc căn nhà, mà không thích áo bành tô).

Vậy theo ta hiểu th́ Bồ Tát là phải nhớ đến Bồ đề tâm, nhớ phát nguyện và hồi hướng cầu thành Phật, nhưng không hiểu tại sao khi ta đọc Tâm Kinh th́ thấy trong đó có nói câu 'vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố'. Lúc đó ta nên khởi tâm nghĩ như vầy : Bồ Tát Quán Tự Tại là bậc Diệu Giác Bồ Tát, c̣n ta đây là Bào thai Bồ Tát (Bồ Tát c̣n nằm trong bụng mẹ). Hơn nữa Quán Tự Tại Bồ Tát đă hiểu, đă thấy, đă chứng được tánh Không, tức thực tướng của vạn pháp, c̣n ta đây không biết cái ǵ là phải cái ǵ là trái, cái ǵ tốt cái ǵ xấu, cái ǵ là Từ Bi cái ǵ là ác độc, nói chi đến tánh Không với tánh Có. Ta đừng làm giống như người đang đi trên sông, thấy người khác đến bờ vứt bỏ con thuyền, mà ở đây ta cũng vội vàng lấy búa ra đập thủng thuyền của ḿnh. Ta phải luôn luôn ư thức nh́n lại xem ḿnh là ai? Em bé lên 3, thanh niên 20, hay ông lăo 70. Nếu là em bé lên 3 th́ ta hăy vui vẻ tập đi, không nên bắt chước lấy cây gậy của ông già bảy mươi mà chết sớm. C̣n ngược lại nếu thấy ḿnh là ông lăo bảy mươi th́ ta cứ việc 'vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố', không ai cấm cản v́ đạo Phật là đạo tự giác không có bắt buộc hay độc tài.

Sau khi hiểu được sự phát Bồ đề tâm cũng như sự phát nguyện và hồi hướng của Bồ Tát, ta bước sang phần thực hành của Bồ Tát tức Lục Độ.

À, h́nh như chúng ta quên mất một điều, là không biết tại sao Bồ Tát lại phát Bồ đề tâm? Mục đích của Bồ đề tâm là thành Phật cứu độ chúng sanh, nhưng lư do và căn nguyên của sự phát Bồ đề tâm là ǵ? Bồ Tát phát Bồ đề tâm, lư do v́ Bồ Tát thấy chúng sanh đau khổ nên muốn cứu khổ chúng sanh, muốn cứu khổ chúng sanh nên mới cầu thành Phật tức cầu sự giác ngộ hoàn toàn.

Bồ Tát là những người ư thức được sự đau khổ của cuộc đời, thấy rơ được sự bất công, sự đàn áp, bóc lột, lợi dụng, tàn hoại, ác độc của chính con người tạo cho con người. Nếu Bồ Tát chỉ ngồi một chỗ, cần ǵ hô lên một tiếng, có người đem đến dâng cho, th́ Bồ Tát khó ư thức được sự khó khăn, đổ mồ hôi sôi nước mắt của người dâng cho ḿnh. Nếu không tự thân chứng nghiệm đau khổ, th́ ít nhất Bồ Tát cũng tập ư thức sự có mặt của đau khổ nơi mọi loài. V́ có đau khổ nên mới có đạo Phật, nếu không có đau khổ th́ không có đạo Phật. Bồ Tát ư thức được sự đau khổ không phải để sợ hăi, mà là để nuôi dưỡng ḷng từ bi của ḿnh. Bồ đề tâm của Bồ Tát cũng ví như ngọn lửa được đốt bằng dầu đau khổ. Nếu không có dầu đau khổ th́ ngọn lửa Bồ đề tâm sẽ tắt. Do đó đối với Tứ Diệu Đế, Bồ Tát đă thấu triệt hoàn toàn. Nếu chúng ta muốn đi theo con đường của Bồ Tát th́ chúng ta cũng cần phải học cho thông suốt Tứ Diệu Đế, nếu không được th́ ít nhất chúng ta cũng cần phải hiểu được 'Nhị diệu đế' tức là hai Diệu đế đầu: Khổ Đế và Tập Đế. Và sau khi hiểu rơ rồi th́ ta hăy tiến bước trên Bồ Tát đạo, nếu không như thế th́ ta chỉ là 'danh tự Bồ Tát', tức là ta đến chùa thọ bồ tát giới cho vui mà thôi.

Sau khi hiểu được nguyên nhân và mục đích của Bồ Tát, ta bước sang con đường đi của Bồ Tát, tức Bồ Tát đạo (Bodhisattvamàrga).

Bồ Tát đạo thường được biểu hiện qua Lục độ, tức sáu hạnh, c̣n gọi là Lục Ba La Mật (Pàramità) gồm có: Bố thí (Dàna), Tŕ giới (Sila), Nhẫn nhục (Ksànti), Tinh tấn (V́rya), Thiền định (Dhyàna), Trí tuệ (Prajna). Pàramità dịch âm là Ba La Mật Đa, dịch chữ là Đáo Bỉ Ngạn có nghĩa là đến bờ bên kia. Lục Ba La Mật là sáu phương tiện có khả năng đưa (độ) Bồ Tát sang đến bờ bên kia là bờ Đại Giác, tức Phật.

Trong phạm vi nhỏ hẹp, sách này chỉ xin nói về Bố thí Ba la mật thôi. V́ bố thí đúng với ư nghĩa của nó th́ nó bao gồm cả sáu Ba la mật, nếu không th́ nhiều khi nó cũng không được gọi là Bố thí nữa.

-oOo-

 

 

  Webmaster: chuyenvienweb@gdptvnac.net