Trại
Huấn-luyện
Huyền Trang I


 


 



 


Các Đội và trại sinh


Tiểu luận Trại sinh

 

 

 

                       

 

Tiểu luận

 
 

Nhiệm vụ người Huynh Trưởng
trước ngưỡng cửa thế kỷ 21. 
Anh Chị Là ai ? 
Vai tṛ của Anh là ǵ ?

Đội

Đơn vị

Đề 3a 1- Thiện Hạnh - Vơ Thi Mỹ
2- Thị Thiện - Phạm Công Hoàng
GIÓ GĐPT Chánh Dũng     - Đức quốc
GĐPT Chánh Giác       - Đức quốc
 

Huynh Trưởng Huyền Trang nghĩ làm sao?
Ngưỡng cửa Thiên Niên mới bước vào
Trang bị thế nào cho vững chăi
Phong ba băo táp vẫn không nao.

    Bốn câu thơ trên giới thiệu vai tṛ của người Huynh Trưởng
        phải như thế nào khi bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ 21.

Đây là đề tài thoạt mới đọc qua chúng ta thấy nó có vẻ mới mẻ, to lớn và bao quát đối với người Huynh Trưởng. Thật ra vai tṛ người Huynh Trưởng trước sau không đi ra ngoài các điều mà tất cả Huynh Trưởng và đoàn sinh đều nguyện trong mỗi buổi sinh hoạt Gia Đ́nh Phật Tử (GDPT):

  • Phật Tử qui y Phật Pháp Tăng và giữ giới đă phát nguyện

  • Phật Tử mở rộng ḷng thương tôn trọng sự sống

  • Phật Tử trau giố trí tuệ tôn trọng sự thật

  • Phật Tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm

  • Phật Tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo

Sự thịnh suy của gia đ́nh Phật Tử tùy thuộc vào những Huynh Trưởng có thực hành đúng, nhiều hay ít, có Niềm Tin vững chắc vào năm điều nguyện hay kim chỉ nam BI TRÍ DŨNG hay không?

Là Huynh Trưởng chúng ta đều biết rằng, Gia Đ́nh Phật Tử là một Tổ Chức Giáo Dục và một khi hiểu được như thế, chúng ta thấy ngay vai tṛ của người hướng dẫn quan trọng biết chừng nào. Người hướng dẫn đó trong Gia Đ́nh Phật Tử không đâu xa lạ: Đó chính là chúng ta, những người hướng dẫn, tổ chức, điều hành làm sao cho các em đoàn sinh hiểu được, tin được, học được và thực hành được những ǵ mà Giáo Lư Đức Phật để lại cho nhân loại. Ngơ hầu nâng cao phẩm chất trong trắng, hồn nhiên, tự tại của các em. Từ đó vừa đem lại sự tin tưởng giao phó của các bậc phụ huynh, đem lại sự ḥa thuận trong gia đ́nh Phật Tử, sự an vui cho mọi gia đ́nh trong xă hội, làm nền tảng đưa đến sự thanh b́nh thịnh trị cho Quốc Gia Dân Tộc. Như vậy là Huynh Trưởng anh phải làm sao để tạo được niềm tin vững chải vào Đạo Pháp cho các đoàn sinh? Anh phải hiểu Đạo Phật như thế nào?, Anh phải dùng phương pháp ǵ để hoàn tất trách nhiệm đối với GĐPT và những đối tượng chung quanh anh?

Trả lời những câu hỏi nầy chính là anh chi em Huynh Trưởng chúng ta thấy được nhiệm vụ cao cả, mà trong khoá huấn luyện Huyền Trang, Thầy Trí Siêu nói đùa đó là cái nghề Huynh Trưởng mà thực ra đó là cái nghiệp của Huynh Trưởng vậy.

Thấy được nhiệm vụ cao cả đó, người Huynh Trưởng chúng ta phải hiểu cặn kẽ về Đạo Phật và giáo lư của Đức Thích Ca Mâu Ni, ngỏ hầu vừa tu học cho ḿnh vừa giải thích cho các em cũng như cho bất cứ ai ngộ nhập Phật tri kiến, dùng lư trí để hiểu Đạo, vun bồi đức tin để tu Đạo giải thoát, nhất là đối với môi trường Tây Âu, nơi xứ lạ quê người nầy, nơi mà sự phát triển đời sống vật chất càng ngày càng chi phối con người và đời sống tâm linh hầu như bị bỏ quên, th́ sự gieo hạt giống sen hồng trên xứ tuyết lại càng khó khăn hơn.

Vậy Đức Phật là ai? Đạo Phật là ǵ?, Đạo Phật có phải là một Tôn Giáo không?

Thái Tử Tất Đạt Đa đă bỏ tất cả vinh hoa phú quí, vợ đẹp, con ngoan đi tu để t́m đạo giải thoát. Ngài đă đi tu, chứng quả thành đạo và trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài đă đưa ra Đạo Giải Thoát, thoát ṿng sinh tử luân hồi, mà ngày nay người ta gọi là Đạo Phật, là một Tôn Giáo, để lại cho chúng sinh, tính đến nay đă trên 2543 năm. So sánh với các tôn giáo khác chúng ta thấy Đạo Phật đă và đang đưa con người vào sự tin tưởng và sùng kính?

Dĩ nhiên Đạo Phật cũng có lúc thạnh, lúc suy. Tất cả những yếu tố trên tùy thuộc vào khả năng và căn cơ của người tu học, tùy thuộc vào phương tiện, môi trường, vào thuận duyên hay nghịch duyên và cộng nghiệp... Ngay cả có người Tây Phương cho rằng Đạo Phật không phải là một Tôn Giáo.

Về điểm nầy chúng ta nên phân tích kỹ một chút, ngỏ hầu giải thích cho các em đoàn sinh của chúng ta thấy đúng, hợp lư và có khoa học; Từ đó các em có niềm tin vào Giáo Pháp, chứ không phải là tin mê tín dị đoan.

Thật vậy, thông thường người Tây Phương cho rằng Tôn giáo th́ phải có thần khải, phải có yếu tố thần truyền, thiêng liêng. Nhưng một số triết gia Tây Phương như John Stuart Mill, Voltaire, Auguste Comete, Whitehead hay Aldous Huxley có những định nghĩa tùy theo sự suy nghĩ và sự hiểu biết của họ: Tôn giáo là sự thờ phụng nhân loại. Tôn giáo là một lối giáo dục nhờ đó mà con người có thể tự giới.... Ngày nay chúng ta thấy không có một công thức nào nhất định cả và lối định nghĩa nào cũng có lư riêng của nó. Vậy chúng ta có thể nói rằng: Nếu một tôn giáo mà chúng ta không có sức hiểu và thực hành theo được, nếu tôn giáo ấy không có ảnh hưởng và hậu quả ǵ đến chúng ta, th́ dù nó có thần khải hay không, đối với chúng ta nó vẫn là vô nghĩa. Trái lại, nếu một tôn giáo không có thần khải mà chúng ta hiểu được, thực hành được, có thể đem lại cho chúng ta nhiều ảnh hưởng tốt và những hậu quả tốt th́ chúng ta vẫn tôn thờ, phụng sự như thường. Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Dù có đến thiên niên thứ mấy đi nữa, dù Đạo Phật là một triết học hay là một tôn giáo, một khoa học, một luân lư, một siêu h́nh học... nếu chúng ta muốn, th́ Đạo Phật đối với chúng ta vẫn là Đạo Phật hoặc nói rơ hơn, Đạo Phật là những giáo lư của Phật dạy. (1)

Hiểu được những điểm căn bản về Đạo Phật, người Huynh Trưởng càng vững vàng trả lời những câu hỏi được nêu ra đó là:

*** Thế nào là Phật Tử?

Trong Kinh Pháp Hoa có viết:

Tùng Phật khẩu sanh (Từ nơi miệng của Đức Phật sinh ra)
Tùng Pháp hóa sinh (Từ nơi giáo Pháp của Đức Phật phát sinh ra)
Đắc Phật pháp Phật (Hiểu được giáo pháp của Đức Phật)
Thị danh Phật Tử (Đó chính là Phật Tử) (2)

Nếu là Phật Tử mà không hiểu lời dạy của Phật, không thực hành theo những lời dạy của Ngài, th́ Đức Phật và giáo Pháp của Ngài đối với họ không có một ư nghĩa ǵ nữa. Bởi thế, đốt hương, kết hoa, tỏ ḷng biết ơn Phật ... không phải là việc làm nhất thiết của người Phật Tử chân chính. Thực hành và sống theo lời Phật dạy mới là Phật Tử chân chính vậy. Và một khi đă qui y Phật Pháp Tăng, chúng ta là những người đă tu học các khóa Sơ, Hướng, Thiện, Lộc Uyển, A Dục, Huyền Trang.., đă hiểu những giáo lư của Đức Phật để lại, đă hiểu thế nào là người con Phật và đă làm lễ Truyền Đăng Tục Nhiệm, người Huynh Trưởng chúng ta càng phải thấy được giá trị thực của đức tin trong Đạo Phật. Đức tin đă đưa con người ngộ nhập Phật Tri Kiến, đưa họ đến sự sùng bái, phát huy và duy tŕ Đạo Phật cho đến ngày nay. Vậy tại sao chúng ta phải phân tích cho các em thấy được đức tin đối với Đạo Phật, có một giá trị cao cả, bất diệt ?

*** Đức Tin trong Đạo Phật ?

Phật Thích Ca có dạy: "Tin là căn bản của sự thành công, và là nguồn gốc của muôn hạnh lành". Nhưng ḷng tin của người Phật Tử không phải là một ḷng tin cuồng tín, sôi nổi, không suy xét.

Nh́n vào lịch sử Phật Giáo truyền vào Việt Nam khoảng 2000 năm, có thời rực rỡ huy hoàng, nhưng cũng có thời lu mờ hôn ám. Sự kiện nầy chính là do đức tin. Những h́nh thức bói xăm, lên đồng, đốt vàng mă... họp chung lại thành đạo. Trong bất cứ trường hợp nào họ cũng mô Phật được. Chúng ta thử hỏi có bao nhiêu người biết và hiểu Phật. Khi lâm nạn, gặp khó khăn họ mới đến chùa, đốt hương khẩn cầu. Họ xem Đức Phật là một vị thần thiêng liêng sẵn sàng ban phúc diệt họa cho họ mỗi khi họ cần đến. Một câu chuyện sau đây chúng ta sẽ chứng minh cho các em Lam sinh thấy Đức Phật là người như thế nào ở trong thời điểm mà thế lực, địa vị, giàu sang là những phương tiện để ngự trị, để xâm chiếm và về Tôn Giáo th́ có rất nhiều và phức tạp.

Một hôm, có người trong phái Kalmala đến t́m Đức Phật và hỏi Ngài: " Bạch Đức Thế Tôn, các Thầy Bà La Môn ngoại đạo đến thăm chúng tôi, người nào cũng bảo rằng chỉ có lời của họ mới đúng chân lư mà thôi. Bạch Ngài, chúng tôi thật lấy làm phân vân không biết theo bên nào". Trả lời câu ấy, Đức Phật không bảo rằng Ngài là chúa tể vạn vật, chỉ có đạo Ngài mới theo, Ngài không bảo rằng các vị giáo chủ và các đạo khác đều là hư ngụy, là sai lầm. Lời dạy của Ngài rất rộng răi. Ngài bảo: "Ngươi đừng vội tin theo ai cả. Tất cả những ǵ ngươi đă thực nghiệm sâu xa, hợp với lư trí xét đoán của ngươi, đem lại hạnh phúc cho ḿnh và những kẻ khác, những cái ấy, ngươi hăy nhận đó là chân lư và hăy cố sống đúng theo chân lư ấy".

Đọc đoạn vừa rồi trong kinh Kalama, chúng ta nhận thấy hai điều: một là Đạo Phật không bao giờ bắt buộc người ta tin theo một cách mù quáng, hai là Đức Phật không phải là một vị chúa tể có quyền phép lạ, có thể đem tín đồ ḿnh đặt ở thiên đường hay ở địa ngục tùy theo ư thích của ḿnh.

Nội một sự kiện "không buộc người phải tin một cách mù quáng" đủ chứng tỏ rằng Đạo Phật có một tinh thần thật rộng răi và có tính cách nhân loại. Đạo Phật cũng dạy rằng không hiểu Phật mà theo Phật th́ đă không có lợi mà c̣n có hại là khác nữa.

Hăy nh́n Đức Phật ở địa vị chính của Ngài và đừng bao giờ đặt Ngài ở địa vị một thần linh, một chúa tể. Người Phật Tử phải tin tưởng ở sự dẫn đường sáng suốt của bậc Giác Ngộ, tin tưởng ở Phật Tính sẵn có ở mọi loài, chứ không phải tin nơi quyền phép có thể ban phúc trừ họa. Đến đây chúng ta bây giờ cần phải đào sâu về vai tṛ và nhiệm vụ của người Huynh Trưởng.

*** Vậy vai tṛ người Huynh Trưởng hiểu rơ như thế nào ?

Trở thành một Huynh Trưởng, được bầu để nắm nhiệm vụ hoặc Liên Đoàn Trưởng, hoặc là thành viên trong Ban Chấp Hành Chi Đoàn, hoặc cao hơn là nắm trách vụ Trưởng Ban hay chức vụ Ủy Viên trong Ban Hướng Dẫn cấp Quốc Gia, hay cấp Châu, người Huynh Trưởng Áo Lam cần phải có ba yếu tố quan trọng đó là: Yếu tố T́nh Cảm, Yếu tố Lư Trí và Yếu tố Ư Chí. (3)

1. Yếu tố T́nh Cảm (Bi) là t́nh thương đối với các Anh Chị Em trong GĐPT và rộng ra là đối với chúng sinh muôn loài. Một Thầy Huyền Trang một ḿnh một ngựa, đă quyết tâm trải qua bao nhiêu gian khổ, vượt qua hàng vạn dặm để t́m, học và dịch ba Tạng Kinh Điển há có một tấm ḷng Từ Bi, thương yêu mọi người, thương yêu chúng sanh sớm hiểu Đạo Giải Thoát của Đức Từ Phụ hay sao ?!! Người Huynh Trưởng có yếu tố nầy v́ phải làm công tác giáo dục, với nhiệt t́nh, tự nguyện vô vị lợi đem lại lợi lạc đến cho mọi người và một T́nh Lam biết tha thứ, không những chỉ thương cái tốt mà c̣n thương luôn cái xấu của các Anh Chị Em trong đại GĐPT Áo Lam. Bao quát hơn chúng ta hăy học cái hạnh của đất.

2. Yếu tố Lư Trí (Trí) là khả năng nhận định sáng suốt, quyết định kịp thời để thi hành những điều mà cấp trên giao phó, điều động các đoàn sinh áp dụng tinh thần Lục Hoà và Ngũ Minh Pháp hoàn tất nhiệm vụ một cách có khoa học và chu đáo. Người Huynh Trưởng cầm đoàn rèn luyện tâm ḿnh để làm nẩy nở trí huệ và dùng trí huệ của ḿnh vào việc đối ngoại và đối nội. Đối ngoại là làm thế nào vận động được sự hỗ trợ bên ngoài có thể là quư Thầy, có thể là quư Đạo Hữu, có thể là Ban Hướng Dẫn cấp Quốc Gia, cấp Châu và cũng có thể là GĐPT bạn, ngỏ hầu những thiếu sót, những kém cỏi của GĐPT ḿnh được bồi bổ, học hỏi thêm và có cơ hội thăng tiến. Dùng lư trí để nâng sinh hoạt các nghành, tùy duyên ứng biến để áp dụng tâm lư đối với một phương tŕnh bậc nhất nhiệt t́nh, mà biến số là t́nh cảm lúc th́ lên, lúc th́ xuống, lúc dậm chưn, lúc hăng hái... của các đoàn sinh.

3. Yếu tố Ư Chí (Dũng) là học được hạnh nguyện của Đức Đại Thế Chí Bồ Tát và noi gương chí nguyện của Ngài Huyền Trang, không sợ gian khổ, không sợ khó khăn, chấp nhận lỗi lầm, chấp nhận chỉ trích, mạnh dạn nhận nhiệm vụ và quyết tâm, kiên nhẫn, bền chí chu toàn công tác trong tinh thần v́ Tổ Chức, v́ tương lai của GĐPT, không kiêu căng nhưng tự hào là một Huynh Trưởng của một Tổ Chức Giáo Dục Áo Lam, hănh diện đă có những người Anh, người Chị vượt qua bao nhiêu sóng to, gió lớn, kiên tŕ lèo lái con thuyền Lam vững chải và tồn tại cho đến ngày nay đă trên năm mươi năm.

Có được ba yếu tố trên, người Huynh Trưởng áo lam c̣n cần phải siêng năng quán xét tự tâm, diệt trừ phiền năo. Khi con người tưởng Tu Hành là phải đi đâu xa để t́m kiếm, th́ chính là họ càng ngày càng đi xa đạo. Viên bảo châu "Như ư" đă nằm sẵn trong lai áo, chúng ta chỉ có mỗi một việc chịu khó nhận ra nó để dùng. Của báu đó chính là bản tính chân thật, là Chân Như, là Phật Tánh ở trong ta vậy.

Chúng ta hăy lắng nghe câu chuyện về Ngài Châu Lợi Bàn Đặc (Suddhipathaka): (4) Ngày xưa khi Đức Phật c̣n tại thế, trong hàng đệ tử xuất gia của Phật có Ngài Suddhipathaka căn cơ ám độn, học trước quên sau. Xuất gia theo Phật đă lâu mà không thuộc một câu kinh bài kệ nào cả. Người anh Ngài thấy vậy la bảo: "Này Châu lợi ! Tu mà không hiểu giáo lư, không thấy đạo, tốt hơn nên về nhà phụng sự gia đ́nh c̣n hơn". Tủi thân Ngài đứng dựa tịnh xá và khóc. Lúc ấy Đức Phật trong tịnh xá đi ra thấy vậy, dừng bước và hỏi: "Tại sao con khóc?" Ngài Châu lợi buồn bă và thuật lại về căn cơ ám độn của ḿnh. Đức Phật nghe xong cầm tay ngài Châu Lợi vào tịnh xá và ôn tồn dạy: "Này Châu Lợi con hăy lắng nghe ta và nhớ kỹ hai chữ TẢO TUỆ nầy". Mừng quá ngài Châu Lợi đảnh lễ Phật lănh lời chỉ giáo. Nhưng tội nghiệp ! Ngài học chữ TUỆ th́ quên chữ TẢO và ngược lại. Nhưng nhờ sự bền bỉ không nhàm mỏi, ngài bỏ ăn quên ngủ, cố sức dụng tâm ghi nhớ, măi đến ba bốn hôm sau ngài mới thuộc trọn vẹn hai chữ. Lúc đó ngài không hiểu Đức Phật dạy ngài hai chữ trên với dụng ư ǵ ? Ngài bèn chạy đến hỏi Đức Phật: "Bạch Đức Thế Tôn con đă học thuộc hai chữ TẢO TUỆ, hôm nay con xin Ngài chỉ dạy trọn nghĩa của hai chữ ấy". Đức Phật cười hiền ḥa dạy: "Này Châu Lợi, TUỆ là CHỔI và TẢO là QUÉT. Con hăy dùng chổi Trí Tuệ để quét sạch phiền năo nơi tự tâm". Từ đó ngài Châu Lợi chăm làm theo lời Phật dạy. Sau bảy hôm Ngài chợt thấy thanh tịnh, mọi sự vật đều sáng tỏ. Mừng quá, ngài lại đi t́m Phật và thưa là Ngài đă dùng trí tuệ quét sạch hết phiền năo. Phật mỉm cười khen ngợi: "Đúng thế con đă trừ nhơ, con đă giác ngộ". Chúng ta thấy Giáo lư của Đức Phật là vậy đó. Giáo lư mênh mông như biển cả, thăm thẳm như rừng sâu, nếu chúng ta không t́m được chỗ then chốt để làm căn bản th́ sự tu hành khó bề đạt đạo.

Chính giáo lư ấy được cô đọng trong bài kệ sau đây (5) :

Chẳng làm các điều ác
Vâng làm các việc lành
Giữ tâm ư trong sạch
Ấy lời chư Phật dạy

Hai câu trên của bài kệ cốt dạy chúng ta dứt ác, làm thiện. Đứng trên b́nh diện xă hội, tự chúng ta phải chận đứng những điều xấu, ác của ḿnh, sau đó cứu giúp, bố thí, nâng đỡ mọi người. Nhưng dứt được ác hay làm được lành chủ động do tâm điều khiển:

Tội tùng tâm khởi tương tâm sám,
Tâm nhược diệt thời tội diệc vong
Tội vong tâm diệt lưỡng câu không
Thị tắc danh vi chơn sám hối. (6)

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy rằng: (7)

Trong tam khiêm tốn là công, ngoài hành lễ phép là Đức.
           (Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tranh chi đức)

Nghĩa là bên trong chúng ta phải chuyên cần vận nội lực loại trừ những tâm niệm kiêu ngạo, tật đố, ngă mạn, ganh tị, đố kỵ, khen ḿnh khinh người, để đạt được tâm niệm khiêm tốn, hạ ḿnh nhún nhường, tùy hỷ công đức. Đồng thời bên ngoài chúng ta thực hành lễ phép, cung kính tôn trọng tất cả mọi người, bởi v́ mọi người ai ai cũng có Chơn Tâm Phật Tánh như nhau, ai ai cũng có những ưu điểm để chúng ta học hỏi, noi theo.

Cho nên người Huynh Trưởng, trước khi hướng dẫn các em, chúng ta phải cố gắng giữ ǵn tâm ư trong sạch. Đây chính là cội nguồn của sự tu tập.

Tại hải ngoại , người Huynh Trưởng Áo Lam Việt Nam chúng ta, đứng trước t́nh thế hiện tại của Đất Nước, Dân Tộc, Đạo Pháp, và Gia Đ́nh Phật Tử, chúng ta phải nghĩ và làm như thế nào khi chúng ta đọc bản Thông Điệp Phật Đản 2544 của Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Huyền Quang, Ngài viết: "Phật Tử càng lúc càng có cơ sở hiện thực để hiểu rơ ư nghĩa thế biệt do nghiệp sinh . Thế gian nầy tốt hay xấu, do chính hành vi của chúng sinh sống trong đó , được h́nh thành duy tŕ bởi biệt nghiệp và cộng nghiệp chúng sinh. Ư thức được điều nầy, Phật Tử luôn luôn hiểu rơ mối tương quan duyên khởi của ta và cộng đồng mà ta đang sống trong đó". (8)

Cho nên trong một đất nước mà Phật Pháp được lưu truyền đă gần hai ngàn năm, th́ người Phật Tử phải tự thấy ḿnh có phận sự góp phần xây dựng xă hội ḿnh đang sống tốt đẹp hơn. Lập Bồ Tát Nguyện, hành Bồ Tát đạo, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, là con đường hướng thượng của người tu Phật, tự hoàn thiện bản thân, đồng thời hoàn thiện xă hội.

Trong ư nghĩa nầy Hoà Thượng Viện TrưởngThích Quảng Độ kêu gọi sự thực hiện ba điều Đức Phật và chư Bồ Tát đă hoàn tất và nay chúng ta phải kế tục truyền thừa: Đó là Bố Thí, Từ Bi và Trí Huệ. (9)

  • Bố Thí để diệt tham lam và đàn áp.

  • Từ Bi để diệt sân hận và tương sát.

  • Trí Huệ để diệt vô minh, bất ḥa và cố tín.

Đức Đạt Lai Đạt Ma trong thông điệp Đầu Năm 2000, Ngài nhận định: Trong thế kỷ 20 đă qua là một thế kỷ của chiến tranh và đổ máu vậy nếu như chúng ta thực sự muốn thiên niên kỷ mới được hạnh phúc hơn, ḥa b́nh và an lạc cho nhân loại th́ chúng ta phải nỗ lực thực hiện. Nó nằm trong bàn tay của chúng ta, đặc biệt trong bàn tay của thế hệ trẻ (10).

Một điều mà Anh Chị Em Huynh Trưởng chúng ta cần phải để ư đến, mà theo cái nh́n của Thiện Hạnh và Thị Thiện rất quan trọng, đó là vấn đề làm thế nào để bảo tồn và phát huy văn hóa Việt tại hải ngoại, nhất là đối với các em bé Việt, sinh ra và lớn lên nơi xứ lạ quê người nầy? Bởi lẽ một dân tộc có văn hoá là một dân tộc biết đọc và viết chữ của văn hóa đó. Chúng ta c̣n có nhiệm vụ kể lại những giai đoạn lịch sử của Dân Tộc Việt, của Giáo Hội Phật Giáo Việt và của Gia Đ́nh Phật Tử Việt cho thế hệ trẻ, phải đem ra những tấm gương sáng về Đạo Pháp và Dân Tộc, những vị Anh Hùng, Anh Thư Vị Quốc Vong Thân, những Vị Tăng, Vị Ni, Đạo Hữu, Huynh Trưởng Phật Tử v́ Đạo Pháp, v́ sự tồn vong của Gia Đ́nh Phật Tử phải quên ḿnh như Bồ Tát Thích Quảng Đức với Trái Tim bất diệt, chị Quách Thị Trang với tinh thần Bi Trí Dũng và ngày nay với bản án tử h́nh đối với hai Thầy Tuệ Sỹ và Trí Siêu và bản án tù chung thân của Đại Lăo Hoà Thượng Thích Huyền Quang và Ḥa Thượng Thích Quảng Độ do chế độ phi nhân gây ra, chúng ta thấy Quư Thầy đă hy sinh, bất chấp lao tù ngục tối, quyết tâm bảo vệ chánh pháp. Những gương sáng ấy chúng ta không để cho nó mai một mà cần phải được phát huy. Bài thơ sau đây của Thầy Tuệ Sỹ cho chúng ta thấy tâm đại từ đại bi của Thầy:

Phụng thử ngục tù phạn
Cúng dường Tối Thắng Tôn
Thế gian trường huyết hận
B́nh bát lệ vô ngôn (11)

Tạm dịch: Hai tay gâng bát cơm tù
               Cúng dường Tối Thắng Đại Từ Thế Tôn
               Cơi trần máu hận trào tuôn
               Tay bưng b́nh bát lặng thầm lệ rơi.

Những tấm gương ấy là kho tàng quư báu, làm nẩy nở ḷng tự hào, hănh diện cho tầng lớp thanh thiếu niên ở hải ngoại, hiểu được nguồn gốc hào hùng của các bậc tiền nhân, đă và dang hiện hửu trên quê hương xa xăm cách nửa ṿng trái đất kia vậy.

Người Huynh Trưởng bước vào thế kỷ 21 phải là những người luôn luôn trẻ. Tĩnh từ Trẻ mà Thiện Hạnh và Thị Thiện muốn nói ở đây là Tinh Thần Trẻ. Đúng ! Trẻ v́ đầu óc lúc nào cũng có ba yếu tố mà Khái Hưng trong cuốn tiểu thuyết Nửa Chừng Xuân viết: "... Cha chết đi không có ǵ để lại cho các con. Cha chỉ c̣n ba tấm gia bảo: đó là Giữ niềm vui, giữ linh hồn trong sạch và đem hết nghị lực ra làm việc" . Và một khi đầu óc vui vẻ, tươi mát làm việc, tiếng Anh gọi là Brainstorming th́ sẽ có những ư tưởng mới để thích ứng với mọi vấn đề có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhất là trong gia đ́nh Phật Tử.

Thật vậy hiện nay nhiều GĐPT có những vấn đề giống nhau đó là vấn đề ngành Thanh, Thiếu, nhiệt t́nh có chiều hướng đi xuống.

Những lời dạy bảo trên cho chúng ta thấy nhiệm vụ của người Huynh Trưởng là viên miễn và đa dạng. Thức thời để đối phó, để thích nghi, để cuối cùng đạt mục đích tốt đẹp cho Đạo Pháp và Dân Tộc: Đạo Pháp sẽ được đơm hoa kết trái và Dân Tộc sẽ được tự do cơm no áo ấm. Nói tóm lại đó là nhiệm vụ Tứ Trọng Ân mà người Huynh Trưởng Việt Nam phải luôn ghi nhớ.

Qua sự phân tích và tŕnh bày trên, chúng ta đi đến kết luận là: Vai tṛ của người Huynh Trưởng Áo Lam trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21 là sự chuyển hóa toàn bộ những giáo lư của Đức Phật để lại đi vào thực hành, đi sát vào thực tế. Đối diện với mọi sinh hoạt, mọi t́nh huống của thế giới bên ngoài mà uyển chuyển giải quyết. Về điểm nầy Thiện Hạnh và Thị Thiện xin mượn ư nghĩa câu kết của Tài Liệu Tham Khảo Liên Đoàn Trưởng, Anh Chị Là Ai ?: "Nhằm hoàn thành nhiệm vụ trong Đạo, Đời và thu hẹp lại là trong GĐPT, người Huynh Trưởng Áo Lam phải nương theo các pháp môn như Tham Thiền, Niệm Phật, Tŕ Chú... để tự độ, độ tha, làm hiển lộ Phật tánh trong ta và giúp cho chúng sanh cùng vượt thoát ngă chấp, trở ngại lớn nhất", v́ như Thầy Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên của GHPGVNTN Âu Châu Thượng Tọa Thích Như Điển thường nói: "không có chiến thắng nào là oanh liệt nhất bằng sự chiến thắng của chính ḿnh". V́ cuộc đời là vô thường mà con người là vô ngă nên người Huynh Trưởng Áo Lam lúc nào cũng lo lắng cho đàn em, trước khi nghĩ đến ḿnh, lo lắng cho tổ chức trước khi nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Trong suốt cuộc đời Huynh Trưởng, Các Anh Các Chị Áo Lam của chúng ta đă và đang làm hết ḿnh nhưng không bao giờ đ̣i hỏi sự trả công, dù là tinh thần hay vật chất, hy sinh vật chất, trí óc mồ hôi nước mắt để mang lại niềm vui và niềm tin cho đàn em mà chưa một lần so đo tính toán... Các Anh Chị Huynh Trưởng lăo thành trong Ban HDTUGĐPT Hải Ngoại và tại Âu Châu các Anh Huynh Trưởng kính mến của chúng ta như các anh Chí Pháp, anh Thị Lộc và anh Tâm Ngọc và một số các Anh Chị Huynh Trưởng khác... có phải là những bằng chứng cụ thể đó sao !!! Và cuối cùng:

Hỡi Huynh Trưởng Áo Lam nước Việt,
Tứ trọng Ân trách nhiệm hai vai
Niềm tin, hy vọng, tương lai
Tu Tâm Hành Đạo ngày mai huy hoàng

Huy hoàng do bàn tay của những người Huynh Trưởng Áo Lam, có tâm hồn TRẺ, có Đạo Đức, có chí khí và ư thức trách nhiệm, đem lại cho Đạo Pháp, cho Quê Cha Đất Tổ, cho một Dân Tộc, vốn có những truyền thống làm rạng danh lịch sử, thoát khỏi ṿng kiềm chế của bảo thủ độc tài và sẽ đem lại cho đất nước sớm có một đời sống an b́nh dưới Mái Chùa Che Chở Hồn Dân Tộc, một xă hội có t́nh người, đặt căn bản trên CHÂN, THIỆN, MỸ.

 


Tài liệu tham khảo:

1. Bài đăng trên báo Dân Chúng của Giáo Sư Thạc Đức, Giảng sư Phật Học Đường Nam Việt.
2. Bài giảng của Thượng Tọa Thích Nguyên Siêu trong khóa Huyền Trang tháng 4 năm 1999.
3. Tài Liệu Tham Khảo: Liên Đoàn Trưởng, Anh Chị Là Ai?.
4. Bài giảng của Hoà Thượng Thích Thanh Từ.
5. Cư Trần Lạc Đạo (Tập 1) của Cư Sĩ Chính Trực.
6. Kinh Nhật Tụng.
7. Pháp Bửu Đàn Kinh - Huệ Năng Lục Tổ (Thiền-Tịnh Đạo-Tràng - Phật Bửu Tự)
8. Thông Điệp Phật Đản 2544 của Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Huyền Quang.
9. Diễn Văn Chào Mừng Phật Đản 2544 của Ḥa Thượng Viện Trưởng Thích Quảng Độ.
10. Thông Điệp Đầu Năm 2000 của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Báo Pháp Âm của GHPGVNTN tại Na Uy (PL. 2544 - Canh Th́n - 2000).